Friday, February 6, 2009

Trần Thiện Thanh


Trần Thiện Thanh Và Bằng Hữu
Việt Báo Thứ Sáu, 2/6/2009, 12:00:00 AM

Với hoài niệm trân quý Nhật Trường Trần Thiện Thanh, ngày 28 tháng 2, 2009 tại Long Beach Convention Center, Trung Tâm ASIA dự định qua Chương Trình thu hình ASIA 61: Nhật Trường Trần Thiện Thanh 2 dựng lại Chân Dung Bằng Hữu - Người luôn hiện diện cùng chúng ta từ, với những thành quả, phẩm chất, phong cách Nghệ Sĩ Đích Thực của riêng Anh - Qua những phẩm vật nghệ thuật anh để lại, chúng ta hẳn cảm nhận ra: Nhật Trường Trần Thiện Thanh không chỉ là kẻ tài hoa tinh xảo trong nghệ thuật trình diễn, kỹ thuật sáng tác mà còn thủ đắc và thực hiện nên thành một Giá Trị Nhân Văn cao hơn hẳn: Anh là Nghệ sĩ Ca Ngợi Con Người � Ca Ngợi Người Lính với Quê Hương Miền Nam nhiệt thành cảm động, chính xác nhất.


Nhật Trường Trần Thiện Thanh đã viết những ca khúc, hát nên tiếng lời ca ngợi Người Lính-Tình Yêu-Cuộc Sống với một tấm lòng � Tấm Lòng của Bằng Hữu - Của Tình Chiến Hữu mà điều đáng nói trước tiên là Anh đã thực hiện công việc cao quý kia không phải do yêu cầu công tác ấn định bởi cơ quan tâm lý chiến quân đội, hay từ nghiệp vụ thông tin, tuyên truyền. Nhưng Anh viết nhạc, hát lên lời do thôi thúc của Bổn Phận - Bổn Phận được xác định như một Nhiệm Vụ Tự Nguyện � Nhiệm vụ của một Người Lính đối với Chiến Hữu còn sống hay đã chết. Và qua nhiệm vụ tự nguyện nầy, bằng tài năng kỹ thuật điêu luyện, Anh đã viết nên, kể lại câu chuyện về đời sống gian nan nhọc nhằn, khi gục chết bi thảm, lần đỗ vỡ cuộc tình mà nhân vật Người Lính đã phải trải qua với những tình huống, điều kiện vô vàn nguy biến, cực độ khắc nghiệt. Nhân vật chính danh ấy là Người Lính Việt Nam Cộng Hòa Miền Nam � Người Lính đã từ lâu bị xuyên tạc, mạ lỵ bởi một kẻ thù vô vàn thâm độc cũng như từ những người bạn đồng minh nặng thiên kiến qua hệ thống tài liệu, sách vở, báo chí, phim ảnh, bài hát được trình chiếu, quảng bá suốt từ mấy mươi năm qua trước và sau 1975.. Kéo dài mãi tận hôm nay ở Việt Nam cũng như trên màn ảnh, trong sinh hoạt chính trị xã hội, nơi trường học Mỹ. Nhưng cuối cùng Người Lính Miền Nam vẫn luôn tồn tại. Người Lính Việt Nam Cộng Hòa tồn tại qua hoạt động bền bĩ cao thượng trong lòng của một Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại luôn Nhớ Nước và Thương Lính � Thể hiện bởi những sinh hoạt cảm động và đáng tự hào: Đại Nhạc Hội NHớ Ơn Anh Người Chiến Sĩ VNCH Kỳ 1 và 2 nơi Nam CaLi, hoặc được sống lại từ tiếng hát, ca khúc Nhật Trường Trần Thiện Thanh của ASIA 50 và nay là ASIA 61.

Sau thất bại quân sự 1975, đời sống Miền Nam tiếp tục tồn tại nơi hải ngoại, trong lòng người dân là do lần hy sinh không hề được xưng tụng từ ngàn vạn người lính vô danh � Những Người Lính chết khắp cùng Miền Nam, nơi chân Cầu Bình Lợi trong đám lá lục bình sùi sụt bùn hôi ở cửa ngỏ Sài Gòn đường đi Thủ Đức Lái Thiêu, hay một chốn núi rừng xa xôi không hề ai nghe đến, Toumorong, Darkto.. Trần Thiện Thanh không chỉ viết lời ai điếu bi tráng riêng cho Đại Úy Hùng của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến với nhạc phẩm Rừng Lá Thấp mà đã dựng lại phút giây khốc liệt của Mũ Đỏ Phước Thiện Trần Duy Phước nơi chiến địa Tây Ninh trong Giấc Ngủ Trên Đồi Xanh. Anh chuyển thành bất tử Đại Úy Kỵ Binh Thiết Giáp Bắc Đẩu Nguyễn Ngọc Bích dẫu xác thân vỡ tan ba lần bởi đạn pháo. Nhật Trường sống đủ nỗi đau của Người Goá Phụ Ngây Thơ tuổi vừa đến hai-mươi, ngày mai đi nhận xác chồng với trái tim kiệt lực không còn khả năng được khóc. Chính Nhật Trường Trần Thiện Thanh chứ không ai khác đã đánh động lương tâm, tình cảm của người dân Miền Nam để tất cả thấy ra điều đơn giản cao thượng: Ai là Người Bảo Vệ Miền Nam trong suốt hai-mươi năm của một thời lịch sử điêu linh (1955-1975) mà cái chết cùng khắp, oan khuất luôn bất ngờ chụp xuống như cuộc chia ly bi thương của người thiếu nữ tên gọi Mộng Thường.

Nhật Trường Trần Thiện Thanh đã sống toàn diện một cuộc đời nơi Miền Nam bằng trái tim, với khối óc để vẽ nên chân dung đích thực về Con Người trong Chiến Tranh. Hình ảnh Người Lính trở nên thân thiết, người dân dần quen thuộc với những địa danh, nơi chốn người lính nằm xuống để thực hiện nên điều kỳ diệu xả kỷ mà họ không hề nói nên lời: Bảo Quốc-An Dân. Trần Thiện Thanh Nhật Trường đã thay mặt Người Lính xác nhận Sứ Mệnh Vinh Hiển Cao Thượng nầy trước Quốc Dân, trên Quê Hương, suốt Lịch Sử dẫu hôm nay đã là ba-mươi bốn năm sau 1975.

Phan Nhat Nam










Wednesday, February 4, 2009

KHE SANH (1967- 1968)


Viết nhớ các chiến sĩ Tiễu Ðoàn 21+ 37 BÐQ/VNCH Ðã Tham Chiến Tại Khe Sanh.

Trên tờ Washington Star ngày 9-6-1968 có đăng một bài bình luận như sau ‘ Chắc chắn trận chiến tại Khe Sanh sẽ là một đề tài lôi cuốn nhiều cuộc tranh luận kéo dài. Tuy nhiên dù ai có muốn viết gì chăng nữa thì cũng phải xác nhận rằng, chính nó mới là một yếu tố quan trọng quyết định rút bỏ VN sau này. Ngoài ra Khe Sanh còn nói lên được tấm gương dũng cãm phi thường của người chiến binh Mỹ và đồng minh Nam VN tham chiến. Nên cuối cùng sớm muộn gì người dân Hoa Kỳ cũng nhận ra chiến thắng đó khi họ đã chạm với bộ mặt thật của CSVN ‘.

Và bốn mươi mốt năm sau, ngày 20-1-2009 tại Hoa Thịnh Ðốn, trong buổi lễ nhậm chức tân tổng thống Mỹ Barack Hussein Obama, qua bài diễn văn có nhắc tới sự hy sinh dũng cảm của những người lính Mỹ tại chiến trường Khe Sanh trong tỉnh Quảng Trị thuộc Vùng I Chiến Thuật của VNCH, khi so sánh địa danh này với các trận đánh lừng danh trong quân sử thế giới như Concord, Gettyburg và Normandy..

Năm 1984 nhân dịp Lê Duẩn lúc đó đang là tổng bí thư đảng VC có ghé trụ sở hội nhà văn quốc doanh gần Hồ Tây, được Xuân Thiều (tạp chí văn nghệ quân đội) và Bùi Bình Thi (văn học) chất vấn về sự thất bại của VC trong trận Khe Sanh và Tết Mậu Thân 1968. Cả hai đã được Duẩn trả lời như sau ‘ Trận Khe Sanh và Tết Mậu Thân 1968 là những chiến thắng to lớn, có ý nghĩa buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Hy sinh bao nhiêu cũng là xứng đáng là cần thiết. Không có những chiến thắng này thì không thể có toàn thắng 30-4-1975.

Trong cuộc phỏng vấn của nử ký gia O. Fallaci với Võ Nguyên Giáp được J.Shepley chuyển ngữ và đăng trong Inteview with History với đại ý của câu hỏi, là có phải Giáp đã tạo ra một Diện Biên Phủ thứ 2 tại Khe Sanh để nhốt quân Mỹ hay không ? và Giáp đã trả lời là chẳng bao giờ xãy ra điều này, vì Khe Sanh lúc đó chỉ quan trọng đối với mặt mũi của nước Mỹ mà thôi. Leo thang chiến tranh tại Khe Sanh để gây thêm nổi chết chóc của cả hai phía, mới thật sự thu hút dư luận Mỹ. Ðó mới là chiến thắng sau cùng.

Thật sự đến bây giờ qua hàng ngàn tài liệu của nhiều phía được giải mật có liên quan tới trận Khe Sanh (1967-1968) nhưng cũng chưa có ai dám xác quyết về ý đồ của Hà Nội dùng trận đó với âm mưu ‘ đánh lạc hướng quân đội Mỹ để mở cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 vào lảnh thổ VNCH ‘ hay lấy việc nướng quân trước bom đạn Mỹ tại Khe Sanh để làm nản lòng người Mỹ trước sự phụ họa của đám phản chiến. Ðồng thời Hà Nội gây áp lực với Tàu Ðỏ viện trợ súng đạn như lời thố lộ của Duẩn nói mình đã mặc cả với Mao là sự hy sinh nhiều hay ít của VC đều tùy thuộc vào nguồn quân viện của Trung Cộng nhưng nhất định là phải thắng Mỹ dù có hy sinh thêm 2 hoặc 3 triệu mạng người Việt.

Trong cuốn ‘ Chiến dịch đường 9 , Khe Sanh chung một bóng cờ ‘ xuất bản tại Hà Nội năm 1993, VC có khoe thành tích chiến thắng tại Khe Sanh với 17.000 tử thương trong đó có 13.000 lính Mỹ và 4000 VNCH, 400 máy bay các loại bị bắn hạ, thu được nhiều chiến lợi phẩm. Về phía Mỹ cho biết có 205 tử trận, bị thương nặng nhẹ khoảng 1500 người. Riêng Tiểu Ðoàn 21 và 37 Biệt Ðộng Quân/VNCH có 34 tử trận, VC bỏ xác tại chỗ hơn 2000 ngưới. Nói chung qua 77 ngày tử chiến tại mặt trận Khe Sanh, trong cũng như ngoài căn cứ kể luôn tai làng Vei, tính chung Mỹ và VNCH tử thương khoảng 650 người, bị thương nặng nhẹ 2500 người. Về phía VC thương vong từ 12000 ố 15000 người.

Cuối cùng Khe Sanh đã đứng vững và được giải tỏa trước vòng vây từ 15000 ố 20.000 quân Bắc Việt nhưng rồi cũng phải phá bỏ căn cứ này vào cuối tháng 6-1968 vì áp lực của phong trào phản chiến đang tàn phá nước Mỹ vì chiến tranh VN. Hởi ôi cái giá máu mà người lính Mỹ và VNCH đã đổ tại Khe Sanh suốt mấy chục ngày tắm trong bom đạn của kẻ thù, rốt cục được đem ra đánh đổi để làm xoa dịu vừa lòng đám loạn tặc phản chiến, sau khi tướng Abrams thay thế tướng West làm tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ và Ðồng Minh tại VN. Từ đó cho tới khi có cuộc hành quân Hạ Lào 719, Khe Sanh và hành lang biên giới Lào Việt được khoán trắng cho Không Quân Chiến Thuật và Chiến Lược Hoa Kỳ ngày đêm dội hàng ngàn tấn bom xuống một vùng đất chết vì số lượng thuốc nổ đã sử dụng tại đây nhiều gấp năm lần quả bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ chế được, đã thả xuống thành phố Trường Kỳ (Nagasaky) của Nhật trong những ngày cuối của Thế chiến II.

1- KHE SANH : ÐIỆN BIÊN PHỦ THỨ 2 TRONG CHIẾN TRANH VN ?

Từ đầu năm 1966 qua sự chấp thuận của đại sứ Mỹ tại Lào là William Sullivan nên đoàn nghiên cứu quan sát (SOG) đã có thể sử dụng trực thăng để thả hay bốc các toán viễn thám hoạt động dọc theo biên giới Lào-Việt với quân số trên 20 toán và vài đại đội xung kích thuộc các sắc tộc thiểu số tại cao nguyên Trung Phần.

Thời gian này đơn vị SOG đã được trang bị súng tiểu liên nòng ngắn báng xếp CAR-15, trong khi QLVNCH lúc đó chưa được cấp phát súng M-16. Mùa hè 1966, SOG thêm nhiệm vụ mới là kiểm chứng các trận dội bom (Bomb Damage Assessment) do B-52 vừa mới thực hiện. Nhờ vậy SOG cũng như các phi vụ không ảnh đã nắm được sự hoạt động của cộng sản Bắc Việt đang hoạt động trên đường mòn HCM.

Cũng trong năm 1966 SOG đã mở chiến dịch Shining Brass qua 48 lần xâm nhập vào các căn cứ CSVN tại vùng phi quân sự, đường số 9 tới Tchepone trên đất Lào và căn cứ Khe Sanh. Nhờ đó SOG mới khám phá được địa danh ‘ Khe Núi Xe Ðạp ‘ là một thung lũng hẹp nơi phát xuât của đoàn xe đạp thồ đủ mọi thứ kể cả súng đạn từ Bắc xuôi Nam với trọng tải mỗi chiếc trên 200 ký do dân công phụ trách.

Tại căn cứ Lực Lượng Ðặc Biệt ở Khe Sanh, các toán viễn thám thuộc SOG được vận chuyển bởi phi đoàn 219 thuộc KQ/VNCH do hai phi công VN tài ba mang biệt danh là Cowboy và Mustachio nhưng sau đó Mustachio đã đền nợ nước trong một phi vụ rãi toán viễn thám Nevada bị bắn hạ tại Khâm Ðức (Kontum) .

Mùa thu năm 1966 Trung Tướng Lewis W Walt tư lệnh Ðệ Tam Thủy Bộ qua cuộc hành quân Hastings, thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã đầy lui quân Bắc Việt về bên kia vỹ tuyến và lập hai căn cứ chiến lược Cồn Thiên và Rockpile. Giai đoạn này các toán viễn thám được thả sâu vào lảnh thổ Lào để nghe lén hoạt động của quân Bắc Việt qua các đường dây điện thoại, nhờ vậy mới phát hiện VC đang chuẩn bị tấn công vào hai tỉnh cực Bắc của VNCH.

Ngày 28-6-1966 nhiều toán viễn thám lần lượt bị tiêu diệt khi nhảy vào các vị trí gần Khe Sanh. Cuối cùng toán viễn thám Colorado cũng đạt được kết quả khám phá các căn cứ của quân CS Bắc Việt bao quanh vùng này nhờ gắn được máy nghe lén các cuộc điện đàm của địch.

Từ những ngày đầu của thâp niên 60 thời đệ nhất cộng hòa Nam VN, các cố vấn Hoa Kỳ đã có kế hoạch trùng tu và xây dựng các căn cứ phòng thủ ngăn chận sự xâm nhập của cán binh bộ đội Bắc Việt vào lảnh thổ VNCH mà Khe Sanh là một vị trí trọng yếu nhất. Ðây là một căn cứ yểm trợ hỏa lực cho Ðệ Tam Thủy Bộ Mỹ, nằm gần một sân bay cũ của Pháp. Khe Sanh còn là hậu cứ trực tiếp yểm trợ cho các đơn vị Dân Sự Chiến Ðấu thuộc Binh Chủng Lực Lượng Ðặc Biệt VN do Mỹ yểm trợ, huấn luyện và chỉ huy. Cuối năm 1966 căn cứ chiến lược Làng Vei nằm sát biên giới Lào Việt về hướng cực tây tỉnh Quảng Trị được xây dựng hoàn tất, nên Lực Lượng Ðặc Biệt đã di chuyển về đó và bàn giao Khe Sanh cho Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

Cũng từ đó cho tới khi bị phá bỏ vào tháng 6-1968, Khe Sanh được trùng tu, xây dựng và mở rộng mà đặc biệt nhất là công trình tái tạo phi trường dã chiến Pháp thành một sân bay chiến lược tối tân dài trên 5 km, có đầy đũ phương tiện yểm trợ tiếp vận cho đơn vị đang phòng thủ. Ðể không bị cô lập như căn cứ Ðiện Biên Phủ của Pháp tại Lai Châu truớc năm 1954, Hoa Kỳ đã mở nhiều cuộc hành quân kiểm soát, phát quang toàn vùng bao quanh căn cứ. Nhiều cuộc đụng độ với quân Bắc Việt tại Ðồi 861 nơi có rất nhiều hầm hố giao thông hào kiên cố của giặc, chứng tỏ chúng đang chuẩn bị tấn chiếm Khe Sanh.

Ðể ứng phó kịp thời trước âm mưu của cộng sản Bắc Việt, nên nhiều đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ thuộc Sư Ðoàn 3 Thủy Bộ thay phiên nhau hành quân để giải tỏa áp lực của cộng sản tại các ngọn đồi 861, 881.. Nhờ vậy mới phát hiện thêm quyết tâm của Hà Nội là phải tiêu diệt căn cứ Khe Sanh vì nó là vết dao trí mạng đâm vào yết hầu con đường xâm nhập HCM. Ðó là lý do Bắc Việt đã tập trung một lực lượng chính quy đông đảo bao quanh căn cứ này gồm có các sư đoàn 325, 304, 324 và 320 được trang bị toàn vũ khí tối tân của Liên Xô, Tàu, Ðông Ðức, Ðông Âu như đại pháo nòng dài, súng phóng hỏa tiển và lực lượng thiết giáp hùng hậu..

Ngược giòng Việt Sử ta biết Khe Sanh lúc đầu chỉ là một làng nhỏ, được thực dân Pháp khai thác lập các đồn điền trồng cà phê qua chủ nhân đầu tiên là Eugène Poilane vào năm 1926, mở đường cho nhiều người Pháp khác tới đây làm ăn vì đất đai vùng này rất tốt. Năm 1954 Việt Minh tấn công và chiếm Khe Sanh, chi phối bộ tộc Bru có nguồn gốc Môn-Khmer chừng 50.000 người sống trong vùng từ Quảng Bình, Lao Bảo, Lào vào tới Khe Sanh. Từ tháng 3-1964 linh mục Ponchet thuộc dòng Father of Foreign Mission (Pháp) tới giảng và truyền đạo tại đây nhưng ông đã bị cộng sản sát hại tại Huế trong trận Tết Mậu Thân 1968.

Căn cứ Khe Sanh nằm cách biên giới Lào Việt chừng 14 km về hướng cực tây quận Hương Hóa tỉnh Quảng Trị (VNCH), tọa lạc trên một vị trí cao thuộc ngọn Ðông Tre hùng dũng nhất trong vùng có phụ lưu của sông Thạch Hản là Rao-Quan chảy qua. Vùng này chẳng khác nào một lòng chảo được bao bọc bởi đồi 881hướng bắc, 861, 558 và 881phía nam kiểm soát các trục lộ quan trọng tới căn cứ và sân bay Khe Sanh. Tất cả các ngọn đồi trên mọc đầy cây cối và tre nứa. Ðây là nơi tranh giành đẵm máu giữa quân Mỹ và Bắc Việt gần như suốt thời gian căn cứ bị bao vây. Có khoảng 6000 TQLC Hoa Kỳ trấn đóng tại đây được yểm tợ bởi các đơn vị pháo binh từ hướng tây bắc. Doanh trại của LLÐB Hoa Kỳ nằm về mạn tây nam Làng Vei trên QL9 kế trại tù nổi tiếng Lao Bảo sát biên giới Lào. Tóm lại nhiệm vụ của căn cứ Khe Sanh được coi như một bàn đạp để bộ binh và pháo binh Hoa Kỳ đánh phá ngăn chận trục tiến quân của cộng sản Bắc Việt trên đường mòn HCM. Ngoài ra còn là một cứ điểm quân sự chiến lược của VC trong trận chiến Tết Mậu Thân 1968 tại Quảng Trị và Huế-Thừa Thiên.

Trước tình thế nguy ngập trên nên Tướng Westmoreland tư lệnh lực lượng Ðồng Minh và Hoa Kỳ đang tham chiến tại VN, đã quyết định phải giữ Khe Sanh bằng mọi giá dù biết ưu thế đang thuộc về Bắc quân. Hơn nữa địa thế của căn cứ này vô cùng bất lợi về phương diện phòng thủ, cũng chẳng khác Ðiện Biên Phủ là mấy vì nằm lọt thỏm giữa một thung lũng bao quanh là các ngọn đồi cao gần như che hết tầm quan sát từ bên trong. Ngoài ra cộng sản Bắc Việt còn đào được hai hệ thống giao thông hào ở phía bắc khu phi quân sự và bên kia biên giới Lào, thiết lập dàn điạ pháo mà khoảng cách chỉ có 14 km ,có thể tấn công căn cứ ngày đêm.

Những tháng đầu năm 1967 quân số thuờng xuyên trấn giữ căn cứ chừng một đại đội thuộc Trung đoàn 9 TQLC thay phiên hoán đổi. Bên cạnh còn có một pháo đội cơ hửu của Tiểu đoàn 2/12 với 2 khẩu đại bác 155 ly và hai súng cối 4,2 yểm trợ. Nhưng sau khi một đơn vị TQLC Hoa Kỳ trong lúc tuần tiểu ngoài căn cứ chừng 1 km đã đụng độ nặng với quân Bắc Việt, đồng lúc trong đồn cũng bị pháo kích liên tục. Do trên Khe Sanh được tăng cường thêm Ðại Ðội E thuộc TD2/9 TQLC và đơn vị này đã chạm địch ngày 15-3-1967 tại đồi 861 khiến nhiều binh sĩ bị thương vong.

Tuy nhiên tới ngày 24/4/1967 mới chính thức mở màn các trận chiến giữa hai bên trong giai đoạn 1, để tranh dành các ngọn đồi chiến lược quanh căn cứ. Cũng từ đó các đơn vị TQLC được tăng viện tới Khe Sanh gồm các tiểu đoàn 2 và 3/3 cùng với pháo đội B thuộc TD1/12 PB. Nhờ các cuộc oanh kích dữ dội của B-52 nên các đơn vị TQLC Hoa Kỳ đã làm chủ hoàn toàn các ngọn đồi 861, 881. Ngày 3 tháng 5, lần đầu tiên CS Bắc Việt tấn công căn cứ LLDB tai Làng Vei nhưng chỉ gây tổn thất nhỏ cho quân trú phòng.

Ðể mở đầu cho cuộc tấn công vào Khe Sanh, quân Bắc Việt đã gây áp lực mạnh tại căn cứ Cồn Thiên sát khu phi quân sự vào những tháng cuối năm 1967 để phân tán các đơn vị TQLC tại Khe Sanh. Một tuần trước khi xãy ra trận chiến thật sự, CS đã tấn chiếm đồn biên giới Ban Houli Sane do 2000 quân Hoàng gia Lào trấn giữ. Tình hình căng thẳng thêm nên đã có 4 tiểu đoàn TQLC Hoa Kỳ (gồm 3 TD của Trung đoàn 26 và TD 1/13) hiện diện tại Khe Sanh từ đầu tháng 1-1968. Nhiều đơn vị pháo binh và thiết giáp gồm chiến xa M-48 kể cả thiết vận xa M-113 đã có mặt tại đây vào giữa tháng 1-68 cộng với sự kiên cố của các vòng phòng thủ có đặt mìn dầy đặc từ trong ra ngoài, sẳn sàng đón nhận sự tấn công của địch bất cứ lúc nào.

Ðặc biệt trong căn cứ còn được thiết kế một hệ thống giao thông hào chạy vòng doanh trại, vừa giúp quân phòng trú di chuyển chiến đấu trong lửa đạn và nó cũng là sinh lộ khi đồn bị thất thủ hay tràn ngập. Ðồng lúc các tiền đồn trên những ngọn đồi chiến lược được tăng cường thêm kiến cố, khiến cho quân Bắc Việt không dám tới gần Khe Sanh vì sợ bị phát hiện.

+ Ngày 21-1-1968 Mở Màn Cuộc Tổng Tấn Công Khe Sanh :

Ðây là giai đoạn thứ hai của cuộc chiến, Bắc Việt đã tung vào chiến trường một lực lượng hơn 20.000 của sư đoàn 304 và 325, quân số đông gấp 3 lần Hoa Kỳ có mặt tại trận địa gồm 2 trung đoàn TQLC Mỷ và tiểu đoàn 37 Biệt Ðộng Quân/VNCH. Tất cả chừng 6000 người. Chiến thuật cố hữu của Hà Nội sau trước vẫn là ‘ lấy thịt đè người ‘ với địa pháo như mưa sau đó biển người tràn ngập, bất chấp đạn bom mìn bẩy và sinh mạng của cán binh.

Như Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp đã nói ‘ không cần chiến thắng vì Khe Sanh không cần thiết với chúng, nó chỉ quan trọng với thể diện của người Mỹ ‘ . Vì vậy Khe Sanh đã biến thành địa ngục trần gian từ giây phút đầu với quyết tâm nướng người trên biển lửa của các cấp lảnh đạo cộng sản. Những trận tấn công cảm tử khắp các mặt trận và địa pháo liên tục ngày đêm của Bắc Việt, được báo chí truyền thông phương tây và Mỹ đem về trình chiếu tại Hoa Kỳ, đã trở thành những dư luận tồi tệ và nổi hoang mang cả nước về một trận Ðiện Biên Phủ thứ hai tại Khe Sanh. Sự chết chóc của quân đội Mỹ tại chiến trường đã được tường thuật theo lũy thừa nhân qua đầu óc mao tôn cương của đám ký giả da trắng da màu bản xứ bất lương, càng tác động thêm sự chán ghét và chống đối chiến tranh, vô tình đem lại chiến thắng từ trên trời rớt xuống, mà VC không bao giờ có thể đạt được tại chiến trường.

Trong đợt công kích dữ dội này, pháo địch đã làm nổ tung kho đạn dự trữ lớn nhất trong căn cứ, thiêu hủy nhiều trực thăng tại bãi đáp kế cận. Dã man nhất là quân Bắc Việt đã tràn ngập bản thượng tại Làng Vei, tàn sát đồng bào vô tội, khiến mọi người phải bỏ nhà cửa chạy vào các căn cứ quân sự xin tị nạn. Trước sự đau khổ và chết chóc của dân chúng, nhiều đơn vị TQLC đã chiến đấu với giặc Cộng cả ngày 27-1 mới mở được con đường máu, đem tất cả dân làng về căn cứ và di chuyển họ bằng phi cơ về lánh nạn tại Ðà Nẳng.

Ðại tá Lownds , Trung đoàn trưởng Trung đoàn 26 TQLC cũng là chỉ huy trưởng của căn cứ Khe Sanh đã phải đối diện với nhiều vấn đề nan giải như thay thế 1500 tấn đạn dược bị tiêu hủy, sữa chữa phi đạo bị pháo kích làm hư hại khiến cho loại vận tải cơ C-130 không đáp được. Ngoài ra còn phải giải quyết hàng trăm người tị nạn và đơn vị DPQ tại xã Khe Sanh đang tràn ngập trong căn cứ.

Ngày 22-1 các phi cơ nhỏ C-123 tiếp tế khẩn cấp 130 tấn đạn các loại, đồng thời tiểu đoàn 1/9 cũng tới tăng viện đóng quân tại hướng tây căn cứ. Công cuộc phòng thủ được sắp xếp để thích ứng với tình hình bằng cách dời xa thêm các vị tr1 tới chân đồi 950 băng ngang qua sông Rao-Quan và đồi 881 Nam. Ngày 27-1 Liên Ðoàn 1 BDQ/VNCH tăng cường cho Khe Sanh với một đại đội thuộc tiểu đoàn 21 và toàn bộ tiểu đoàn 37/BDQ do thiếu tá Hoàng Phổ chỉ huy. Dù được chỉ định phòng thủ tuyến lửa xa nhất và nằm ngoài vòng đai căn cứ cuối phi đạo dài hơn 1500m. Tuy nhiên QLVNCH tại Khe Sanh đã giữ vững được vị trí của mình tới khi tàn cuộc chiến trước sự thán phục và ngưỡng mộ của TQLC Hoa Kỳ. Ðây là môt lưc lượng mạnh và đắc lực nhất đã cứu vãn hệ thống phòng thủ yếu ớt tại vị trí đãm nhận.

Tuần lê cuối cùng của tháng 1-1968 dù Cộng quân không ngớt pháo kích và tấn công nhưng phi đạo cũng được sửa sang hoàn tất để các loại vận tải cơ hạng nặng lên xuống tiếp tế và tải thương, chở người tị nạn về Ðà Nẳng. Lợi dụng sương mù dày đặc gần như che kín bầu trời phía tây Quảng Trị, ngày 23/1 VC đã mỡ màn trận địa pháo bằng các khẩu 152 ly do Nga viện trợ, được đặt tại hai hệ thống giao thông hào phía bắc vỹ tuyến 17 và bên kia biên giới Lào, tập trung đổ vào Khe Sanh liên tục không ngừng. Các đơn vị chính qui của Bắc Việt nhân cơ hội này cũng áp sát đến phi đạo, hai bên chỉ còn cách nhau chừng 400m. Tại đây VC đào hầm hố cá nhân và chuẩn bị một cuốc tấn công.

Nhưng ngày 24/1 trời Quảng Trị bổng quang đảng trở lại, nên hơn 450 phi xuất của không lực Hoa Kỳ đều đổ xuống Khe Sanh cho dù pháo binh phòng không của VC rất dữ dội làm thiệt hại nhiều phi cơ khi công tác. Bên ngoài các lực lượng khác của TQLC Mỹ vẫn bám chặt chiến trường, mở lại quốc lộ số 9 để nhận tiếp liệu. Theo ước lượng của của các nhà quân sự, vào lúc đó Bắc Việt đã tập trung trong khu vực từ Cồn Thiên, Gio Linh , Làng Vei tới Khe Sanh chừng 50.000 quân chủ lực, để chuẩn bị một trận đánh lớn. Ðặc biệt cả Mỹ lẫn VC đều tuyên bố không có hưu chiến vào ngày tết nguyên đán Mậu Thân (31-1-1968) tại 5 tỉnh cực bắc thuộc quân khu I VNCH.

+ Ngày 29-1-1968 : Ðêm 30 Tết Mậu Thân, VC Tấn Công VNCH.

Trước tình hình quân sự đang nóng bỏng tại Khe Sanh nên chính phủ VNCH đã ban lệnh hưu chiến vào những ngày đầu Tết Mậu Thân từ 48 giờ, nay chỉ còn hiệu lực 36 tiếng, bắt đầu từ 18 giờ ngày 29-1 đến 6 giờ ngày 31-1-1968. Lợi dụng việc bỏ giới nghiêm và lệnh hưu chiến có hiệu lực, Hà Nội đã mở một cuộc tổng công kích trên toàn thể lảnh thổ VNCH , trong giờ phút linh thiêng mọi người đang đón mừng và cúng kính trong năm mới. Vào lúc giao thừa (29-1-1968) cũng là đêm 30 tết, các thị xã Qui Nhơn, Kon Tum, Pleiku, Darlac, Nha Trang.. là những mục tiêu bị VC tấn công đầu tiên. Có điều quân Bắc Việt không hề tấn công vào bất cứ một vị trí nào của quân Mỹ và Ðồng Minh trong đợt này.

Nhưng tình hình tại Khe Sanh thì khác vì chiến cuộc đã bắt đầu tàn khốc bằng những trận pháo kích dồn dập không dứt, những trận đánh đẳm máu quanh căn cứ và các tiền đồn trên đồi 861 và 881 Nam. Nhưng hầu hết các cuộc tấn công đều bị bẽ gảy nhờ có không trợ và pháo yểm rất chính xác. Tóm lại căn cứ rất an toàn nhờ hệ thống phòng thủ kiên cố nhất là sự hiện diện của Biệt Ðộng Quân VNCH.

Ngày 7-2-1968 với sự yểm trợ của 10 chiến xa PT-76 do Liên Sô chế tạo, quân Bắc Việt đã tấn công và tràn ngập Trại Lực Lượng Ðặc Biệt Làng Vei nằm sát biên giới Lào. Cộng Sản đã tán sát tất cả 9 cố vấn Mỹ và hơn 300 dân sự chiến đấu. Một số chiến xa bị LL đặc biệt bắn cháy nhưng số còn lại đã truy giết những quân nhân Biệt Kích và Ðịa Phương Quân VNCH còn sống sót , cùng đồng bào Làng Vei chạy về căn cứ Khe Sanh đang bị vây hãm, trong số này có nhiều đặc công VC trà trộn theo. Nhưng sau đó đều bị LLDB tiêu diệt.

Tuy vậy, tướng Westmoreland vẫn quyết định giữ vững Khe Sanh như một thách đố để chứng tỏ với thế giới và bọn chóp bu Hà Nội, về khả năng vô địch của không quân Mỹ nhất là các pháo đài bay B-52 sẽ không bao giờ cho phép cộng sản Bắc Việt mơ tưởng việc tái diễn cái gọi là Ðiện Biên Phủ thứ 2 tại đây.

Ngày 9-2 tiểu đoàn 1/9 TQLC đã tái chiếm lại tiền đồn Hầm Ðá ngoài căn cứ sau một đêm lọt vào tay cộng quân. Các tuần lễ liên tiếp vào những ngày thời tiết tốt, hàng ngàn phi vụ của Hải, Không quân và TQLC thi nhau trút bom đạn vào những hầm hố giao thông hào như mạng nhện của VC đào cố thủ quanh căn cứ, B-52 đã biến các đồi núi nằm ngoài chu vi an toàn thành cõi hoang vu không có sự sống, qua chiến dịch không tập ‘ Niagara ‘ kinh hoàng nhất trong lịch sử chiến tranh VN.

Nhưng như Duẩn, Giáp đã tuyên bố ‘ phải chiến thắng Mỹ dù có phải đột rụi Trường Sơn hay hy sinh thêm vài triệu cán binh bộ đội miền Bắc, thì cũng đáng ‘.Do đó măc cho bom đạn trút xuống như mưa, cộng sản Bắc Việt vẫn bám trụ trong hầm hố giao thông hào , nhắm bắn các máy bay vận tải C-130 lên xuống tiếp tế và tải thương cho căn cứ. Vì có nhiều máy bay loại này bị bắn hạ nên 6 tuần, Hoa Kỳ quyết định dùng C-123 thay thế vì loại này cất cánh nhanh và có thể đáp xuống phi đạo ngắn.

Ngày 28-2, quân Bắc Việt thuộc sư đoàn 304 mở ba cuộc tấn công vào tuyến phòng thủ của Tiểu đoàn 37 BDQ/VNCH nhưng bị đẩy lui. Ðây là đợt tấn công cuối cùng vào Khe Sanh vì suốt tháng 3-1968 cộng sản chỉ còn pháo kích mà thôi. Ðể giải toả áp lực cho căn cứ, từ 1 tới 12-4-68 tướng West quyết định tổ chức các cuộc hành quân Pegasus Hoa Kỳ và hành quân Lam Sơn 207A của QLVNCH do thiếu tướng J.J Tolson chỉ huy tổng quát. Quân số tham dự khoảng 10.000 người của 3 lữ đoàn thuộc Sư đoàn 1 kỵ binh không vận cộng với Trung doàn 1 và 26 TQLC Hoa Kỳ. Phía VNCH có Chiến đoàn 3 Dù (TD 3,6 và 8) do Ðại tá Nguyễn Khoa Nam chỉ huy.

Trước một ngày, sư đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ và sư đoàn 1 VNCH mở cuộc hành quân nghi binh tại Cồn Thiên và Gio Linh, kết thúc ngày 1-5-68 qua các cuộc chạm súng không đáng kể. Trong khi đó, cuộc hành quân giải toả Khe Sanh được thực hiện bằng hai gọng kềm, một mặt các tiểu đoàn TQLC từ Cà Lu theo quốc lộ 9 tiến về căn cứ, còn các đơn vị kỵ binh không vận được trực thăng đổ xuống các bãi đáp cách Khe Sanh chừng 5 dặm để mở các cuộc hành quân theo hướng đồn Pháp cũ tiến về căn cứ. Ngày 6-4 các đơn vị kỵ binh không vận đã bắt tạy được với TQLC Khe Sanh tại đồi 471,552,558, 689.

Riêng 3 tiểu đoàn thuộc chiến đoàn 3 Dù/VNCH được trực thăng vận về hướng tây nam Khe Sanh ngày 7-4-68 đã dụng độ và sau nữa giờ giao tranh, cộng quân đã chém vè để lại nhiều xác chết. Ngày 8-4 lúc 8 giờ sáng, lực lượng ky binh không vận vào Khe Sanh. 10-4 KBKV tái chiếm trại lực lượng làng Vei. Ngày 14-4 tiểu đoàn 3/26 tái chiếm đồi 881 Bắc. Ngày 15-4 chấm dứt hai cuộc hành quân Pegasus và Lam Sơn 207A giải tỏa Khe Sanh, Chiến đoàn 3 Dù về Huế còn 2 lử đoàn của Sư đoàn 1 KBKV ở lai Khe Sanh thay thế cho 4 tiểu đoàn TQLC đã trấn thủ căn cứ, để tiếp tục càn quét tàn quân Bắc Việt trong các khu vực phụ cận.

Ngày 6-7-1968 người lính Mỹ cuối cùng rời căn cứ Khe Sanh, thay vào đó là các cuộc hành quân lưu động của quân đoàn III thủy bộ Hoa Kỳ và các cuộc dội bom của không quân chiến thuật Mỹ vì đây là vùng oanh kích tự do, cho tới khi QLVNCH mở cuộc hành quân Hạ Lào 719 năm 1971, căn cứ Khe Sanh mới được sử dụng lại.

2- TIỂU ÐOÀN 37 BÐQ/VNCH TẠI KHE SANH :

Binh chủng Biệt Ðộng Quân ra đời ngày 1-7-1960 qua sự chấp thuận của Tổng thống Ngô Ðình Diệm. Những đại đội biệt lập đầu tiên, được huấn luyện chiến thuật phản du kích, chống xâm nhập của cán binh bộ đội Bắc Việt. Cũng từ đó cho tới ngày 30-4-1975 Miền Nam sụp đổ, người lính BDQ là những chiến sĩ dũng cảm can trường trên khắp các mặt trận, không thua kém bất cứ một quân binh chủng nào của QLVNCH. Từ năm 1970 các trại dân sự chiến đấu do Hoa Kỳ và VN thành lập, dọc theo biên giới Việt-Lào-Miên được sáp nhập vào binh chủng thành các tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân Biên Phòng, nâng tổng số BDQ lên tới 40.000 người. Ngày 10-4-1975 Sư đoàn 106 BDQ ra đời với nhiệm vụ đãm trách phòng thủ vòng đai Sài Gòn-Chợ Lớn cho tới khi được lệnh rã ngũ.

Nhiều tiểu đoàn BDQ được tuyên dương trước quân đội cũng như được nhận huy chương cao quí của tổng thống Hoa Kỳ, trong đó có TD44BDQ của Thiếu tá Lê Văn Dần, tiểu đoàn 52 BDQ , tiểu đoàn 42 BDQ của Thiếu tá Lưu Trọng Kiệt và Tiểu đoàn 37 BDQ của Thiếu tá Hoàng Phổ, đơn vị VN duy nhất tham dự trận Khe Sanh.

Vào những ngày cuối tháng 1-1968 tình hình quân sự tại Khe Sanh đã trở nên nguy ngập trước áp lực thí quân biển người của Bắc Việt. Do đó Trung tướng Robert E.Cushman Jr, tư lệnh Ðệ Tam Thủy Bộ Hoa Kỳ quyết định tăng cường thêm cho căn cứ này Tiểu đoàn 1/9 TQLC Mỹ và Tiểu đoàn 37 BDQ/VNCH + một Ðại đội của Tiểu đoàn 21 BDQ vào ngày 27-1-1968 nâng tổng số quân phòng thủ lên tới 6000 người.

Vừa mới tham dự trận Thạch Trụ (Quảng Ngãi) chưa được về hậu cứ để dưỡng quân và thay đổi quân trang cũng như lảnh lương, thì có lệnh của Liên Ðoàn 1 BDQ tăng phái cho TQLC Hoa Kỳ tại Khe Sanh. Không ai biết chỉ huy trưởng căn cứ lúc đó là Ðại tá Lownds đã nghĩ gì, hoặc là không tin tưởng vào QLVNCH hay muốn thử sự can trường dũng mảnh của hai con cọp khét tiếng miền địa đầu giới tuyến, nên đã chỉ định BDQ/VNCH phòng thủ một vị trí dài 1500m, nằm ngoài vòng đai căn cứ về phía đông cuối phi đạo, đối diện thường trực từng phút giờ đạn pháo của VC nhắm vào các loại phi cơ lên xuống Khe Sanh.

Thân phận bèo bọt của đời lính trận VNCH là thế đó, đem máu và mạng sống để tô đậm thêm màu cờ sắc áo quân đôi, giữ vững từng tất đất quê hương để các thế hệ Miền Nam vui sống an lành tại hậu phương. Một số may mắn tới được bờ đất hứa, nay thành danh thành người nhưng họ đã quên hết những ân tình trời biển của người lính trận, vẫn ngạo khinh chối bỏ sự hy sinh cao quí của cha anh ngày trước, mà vong nguồn rộng miệng và trên hết thay đổi tính người để trở thành những con thú người hai chân, quay cuồng múa máy lập dị khật khùng, khiến cho cha anh của họ phải trùm đầu bôi mặt khi phải đối diện với đồng đội đồng bào.

Tiểu đoàn 37 BDQ + 1 Ðại đội tăng phái của TD 21 nhận lãnh vị trí của TQLC nên nơi này đã có sẳn hầm hố và giao thông hào từ trước. Trong lúc người lính Hoa Kỳ tại căn cứ đều đặn được nhận lảnh lương bổng, tiếp tế thực phẩm thay đổi quân trang thuốc men, thì người lính BDQ/VNCH ở Khe Sanh không có lương nhiều tháng, không được tăng viện để thay thế sự tổn thất thương vong qua các cuộc đụng độ và pháo kích của cộng quân. Rồi ai nấy đều lo lắng cho số phận của gia đình mình trong cơn loạn lạc máu lửa khi cộng sản phát động trận Tết Mậu Thân khắp Miền Nam từ đêm 30 Tết Mậu Thân (27-1-1968).

Ken Pipes, một sĩ quan TQLC tại Khe Sanh tự hỏi nếu là người lính Hoa Kỳ trong hoàn cảnh như vậy, liệu họ có còn tinh thần để tiếp tục chiến đấu hay không ? Vây mà binh sĩ dưới quyền của Thiếu Tá Hoàng Phổ vẫn phòng thủ vững vàng vị trí trong đêm, ban ngày thì tung quân đột kích thẳng vào phòng tuyến của giặc, lấy được nhiều chiến lợi phẩm trong đó có đại bác không giật tối tân mới được Nga chế tạo. Tóm lại như lời kết luận của Pipes ‘ Họ rất hãnh diện được chiến đấu chung với sĩ quan và binh sĩ của TD37 BDQ/VNCH, một đơn vị đồng minh nổi tiếng rất xứng đáng được Hoa Kỳ xưng tụng ‘.

Từ ngày 29-1-1968, TD 37 BDQ đã đụng độ với VC khi tung quân hoạt động bên ngoài. Ngày 21-2-68, quân Bắc Việt mở một cuộc pháo kích dữ đội bằng đạn đại bác và hỏa tiển nhắm vào vị trí phòng thủ của TD37 BDQ. Xế trưa cùng ngày, một tiểu đoàn VC mở cuộc tấn công BDQ nhưng đã bị đẩy lui bỏ lại nhiều xác chết. Ngày 23-2 VC pháo kích vào vị trí BDQ 1307 đạn pháo kích đủ loại. Ngày 29-2-68 vào lúc 10 giờ 15 phút tối, VC mở ba cuộc tấn công vào các vị trí phòng thủ của TD37BDQ, cuộc giao tranh kéo dài tới 4 giờ 30 sáng thì giặc chém ve, bỏ lại tại trận địa 78 xác chết và nhiều vũ khí cá nhân cũng như cộng đồng. Tóm lại trận chiến Khe Sanh 1968, TD37 và một đại đội tăng phái của TD21BDQ tham chiến tại Khe Sanh, đã làm rạng rỡ màu cờ sắc áo của binh chủng BDQ Mũ Nâu, đồng thời đem lại sự kính phục cảm tình của quân đội Hoa Kỳ trước sự chiến đấu can trường và nhất là tinh thần trách nhiệm, kỷ luật của người lính VNCH.

Có một câu chuyện thật cảm động và thắm thiết tình huynh đệ chi binh liên quan tới sự tham chiến của Tiểu đoan 37 BDQ tại Khe Sanh. Ðó là việc Ðại Tá Trần Văn Hai lúc đó là Chỉ Huy BDQ/VNCH đã bất chấp nguy hiểm tới tính mạng, khi ông đã cùng Thiếu tá Ngô Minh Hồng (trưởng phòng 3) và Ðại úy Trần Ðình Ðàng (trưởng phòng 1) từ Sài Gòn ra Ðà Nẳng, theo các chuyến bay tiếp tế và tải thương C-130 hay C-123 tới tận địa ngục Khe Sanh để thăm viếng ủy lạo cũng như chia sớt bớt phần nào nổi tân khổ chạm đáy kiếp đời của người lính BDQ/VNCH thuộc TD21 và 37 đang tăng phái chiến đấu tại đây.

Ngoài ra còn có Nhiếp Ảnh Gia Chiến Trường số 1 Miền Nam là Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Hạnh và Phóng viên Quân đội Hữu Nhơn cũng đã lặn lội tới đây để hòa mình với người lính trận BDQ. Hai ông đã nhiều lần bị thương khi theo các toán cảm tử BDQ trong các cuộc đột kích vào phòng tuyến địch. Nhờ vậy đã chụp được nhiều hình ảnh xác thực và giá trị nói lên sự hy sinh cao cả của lính chiến VNCH. Riêng phóng viên Hữu Nhơn đã viết những bài tường thuật thật cảm động về sự can trường anh dũng của TD37 BDQ, khiến cho ai đọc tới cũng không cầm nổi nước mắt trước nổi cực khổ và chết chóc có một không hai của đời lính bất hạnh Miền Nam và thân phận nhược tiểu của Người VN cả nước trong trò hề biển lận nghĩa nhân của bọn đế quốc tư bản và cộng sản quốc tế.

Trưa 30-4-1975 khi có lệnh đầu hàng buông súng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai Tư lệnh Sư đoàn 7 BB kiêm Chỉ huy trưởng căn cứ Ðồng Tâm, cựu Chỉ Huy Trưởng BDQ/VNCH đã quyên sinh bằng độc dược tại bản doanh đơn vị, quyết không để cho giặc làm nhục. Ông đã cùng với các tướng lãnh Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ.. làm rạng danh muôn đời QLVNCH về tấm gương hào hùng, oanh liệt và xứng đáng để cho các thế hệ VN noi gương.

3- HOA KỲ CHIẾN THẮNG TẠI KHE SANH NHƯNG THUA VC Ở HOA THỊNH ÐỐN :

Ngay khi VC chiếm dinh Ðộc lập vào buổi trưa ngày 30-4-1975, thì tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, Ðại sứ VNCH là Trần Kim Phương, đã nghẹn ngào tuyên bố trước báo chí Mỹ :’ làm đồng minh với Hoa Kỳ là đi vào tử điạ ‘.

Gần ba mươi năm sau, lúc mà vết thương của người vong quốc chưa kịp đóng vảy, thì vào ngày 29-9-2004 trên chương trình ‘ No spin zone’ của đài Fox. Một ký giả tên O’Reilly, sau khi bàn tán chuyện chính trị của A Phú Hãn và Iraq, lại kéo VNCH vào cuôc qua gợi ý :’ Vì Nam VN đã không chiến đấu cho tự do, nên họ không có tự do ngày nay ‘ , Câu hỏi được TT.Bush đáp ‘ YES’ .

Nhưng mới đây DB Loretta Sanchez khi phát biểu trên chương trình ‘ The O’Reilly Factor ‘, đã khẳng định sự sai lầm và không đúng sự thật về câu trả lời của tổng thống Bush. Ông còn lấy làm tiếc, là trước đây Bush đã không chịu tình nguyện sang chiến đấu tại chiến trường VN, nên đã không biết gì hết về cuộc chiến vừa qua, trong đó đã có hằng triệu quân dân Nam VN, chiến đấu bên cạnh quân đội Hoa Kỳ.

Một số còn sống sót sau cuộc chiến đã tới Mỹ tị nạn cọng sản, và họ vẫn tiếp tục chiến đấu không ngừng nghĩ, để dành cho được tự do, dân chủ chân chính tại quê hương VN, mà chính Hoa Kỳ đã trực tiếp bóp nát trước năm 1975. Những thành quả đạt được khắp nẻo đường hải ngoại, như chính quyền công nhận lá cờ vàng biểu tượng của quốc dân VN, tượng đài vinh danh chiến sĩ Việt-Mỹ,sự hình thành các cộng đồng lớn mạnh của người Việt tị nạn, các vụ biểu tình chống Trần Trường trương cờ máu, ảnh quỷ và các phái đoàn VC cũng như kinh tài. Ngoài ra sự ngồi lại của tập thể cưụ chiến binh VNCH, bao gồm cả lực lượng cảnh sát, cán bộ xây dựng nông thôn và thế hệ hậu duệ trong nhiều năm qua rất tốt đẹp... Ðó không phải là sự tranh đấu của người Việt hiện nay, để đòi lại tự do dân chủ của mình, bị chính Hoa Kỳ dùng viện trợ tước đoạt từ mấy chục năm về trước ?

Hoa Kỳ đã một mình một chợ dàn dựng lên, cái gọi là hiệp đinh Ba Lê tháng 1-1973, ngưng chiến và hòa binh cho VN. Vì đã có chủ đích, nên hiệp định này, chỉ có hai điểm đem lợi ích cho họ được thi hành nghiêm chỉnh. Ðó la việcợ quân Mỹ phải triệt thoái hết về nước, theo đúng hạn chót đã ấn định vào ngày 29-3-1973 và quân xâm lăng Bắc Việt , được Hoa Kỳ cho phép ở lại Nam VN. Chỉ điều khoản thứ hai này, đủ chứng tỏ Hoa Kỳ không bao giờ muốn ký hòa ước với cọng sản, để thực thi sự ngưng chiến và tìm kiếm hòa bình cho VN. Trái lại ngụy tạo, hiệp định Ba Lê năm 1973, để có cơ hội công khai và hợp pháp, viết lên bản án tử hình của VNCH, ngay từ lúc ký.

Hành động bất lương của một siêu cường, đã khiến cho bao chục triệu người Nam VN, chẳng những đã tan nhà nát cửa, gia đình ly tán, mà còn bị hủy diệt nền tự do dân chủ, mà họ đã dùng xuơng máu, huyết lệ của chính mình, để bồi đắp, xây dựng và duy trì liên tục từ 1955 đến cuối tháng 4-1975. Cũng vì sự gian manh trên, từ đó uy tín của nước Mỹ không còn được thế giới tự do tin tưởng và mong cậy kết giao hợp tác.

Ðã thế, hai vị TT của Mỹ là Nixon và Ford, còn trắng trợn, nhổ nuốt những lời hứa hen đã được quốc hôi, chính phủ nước mình ký nhận ban hành, đồng thời với những thơ riêng mực đen giấy trắng , liên tục gởi cho TT Nguyễn Văn Thiệu, rằng là hãy ký hiệp định, để tiếp tục có viện trợ. Còn nếu VC bội ước, thì Hoa Kỳ sẽ lập tức dội bom, cũng như trở lại tức khăc, bảo vệ VNCH. Nhưng tất cả chỉ là cuội, chẳng những Hoa Kỳ ngoảnh mặt trước sự sự công khai vi phạm hiệp ước ngưng bắn của VC , mà còn tàn nhẫn cúp hết viện trợ đã hứa, dành cho QLVNCH có phương tiện, chống lại cuộc xâm lăng Nam VN của khối đệ tam cọng sản quốc tế.

Thực chất cuộc chiến VN tới nay vẫn là một đề tài được tranh luận dai dẳng, chính TT. Bush khi tuyên bố ‘ Yes’ trên đài Fox, về một vấn đề gai gốc mà bản thân chưa biết trọn, chứng tỏ là Hoa Kỳ, dù đã tốn nhiều máu xương tiền bạc về cuộc chiến đó, vẫn chưa hiểu thấu cái chiến tranh, mà Cọng sản gọi là ‘ chiến tranh cách mạng ‘, đã đánh bại người Mỹ và thế giới tự do, tại hai mặt trận Trung Hoa lục địa và Nam VN.

Thực chất cuộc chiến đó, nay qua thời gian và những khai quật của lịch sử, cho thấy đó chỉ là một thứ chiến tranh vừa du kích lẫn qui ước, trong mục đích dấy loạn và khuynh đảo thế giới, bằng hành động phi nhân man rợ, chứ không có gì là cao siêu huyền diệu, như một số triết gia trí thức Tây Phương và Hoa Kỳ, từng ca tụng điên cuồng trong quá khứ. Người Mỹ vì không thực tâm chiến thắng tại trận địa, trong khi có đủ điều kiện để chiến thắng, đó mới chính là thực chất của cuộc chiến Ðông Dương.

Nói chung, qua kinh nghiệm xương máu của chính người Việt Quốc Gia, trong suốt 75 năm tranh đấu, cho thấy Hoa Kỳ, Thế Giới Tự Do cũng như Nam VN, đã thua VC qua cuộc chiến với một lý do duy nhất : ‘ Ðó là sự hèn nhát của tập thể, vì sợ và ích kỷ, nên đã vô tình hay cố ý, yểm trợ đắc lực cho Bắc Việt các nguồn tình báo, nhân lực và tiếp tế ‘.Một sự kiện lích sử mà không hề thấy tại các nước khác bị chia đôi, sau thế chiến 2 như Ðức, Triều Tiên và Ðài Loan. Do trên, Nam VN không bị cọng sản cưởng chiếm, cũng là chuyện lạ.

Vì đâu phải mất nước ? một câu hỏi đã đè nặng trong tâm trí người Việt sống sót sau cuộc chiến. Bởi chính họ đã có mặt hay thật sự chứng kiến toàn bộ cuộc chiến, từ đầu cho tới trọn ngày 30-4-1975, khi Nam VN buông súng đầu hàng. Rõ ràng trong suốt cuộc chiến từ năm 1955-1975, dù có mặt Hoa Kỳ và Ðồng Minh hay chỉ một mình chiến đấu đơn độc, QLVNCH vẫn luôn làm chủ chiến trường, tại hầu hết các mặt trận nhỏ lớn, quan trọng như Tết Mậu Thân, Mùa hè đỏ lửa 1972 tại An Lộc, Kontum, Bình Ðịnh, Quảng Trị.

Ngay những ngày tháng 4-1975 trong giờ thứ 25, dù phải chống trả với thù trong giặc ngoài, QLVNCH vẫn chiến đấu anh dũng tại các mặt trận Khánh Dương, Tháp Chàm, Phan Thiết, Phước Long, Tây Ninh-Hậu Nghĩa và nhất là Xuân Lộc, đã làm quân xâm lăng Bắc Việt, phải khiếp sợ la làng, đổ thừa Mỹ trở lại, giội bom nguyên tử. Ngày 30-4-1975, khi các quân đoàn Bắc Việt, từ tám hướng siết chặt vòng vây Thành Ðô, nhưng bên trong vẫn còn đủ an toàn, để Hoa Kỳ dùng trực thăng bốc người ra chiến hạm.

Trên sông Sài Gòn cũng như khắp bầu trời, cũng chính là những sinh lộ, bởi vì khắp nơi còn có sự chiến đấu của SD3,5,7,9,18,21,22,25 BB, của Lữ Ðoàn 3 Xung Kích, SD Dù, Biệt kích Dù-Lôi Hổ, TQLC, Thiết Giáp,BDQ, DQP+NQ,XDNT,CSDC và ngay cả những Thiếu Sinh Quân, Nhân Dân Tự Vệ. Tất cả đã ở lại chiến đấu tới cùng, và đã làm vỡ mặt Hà Nội, khi những chiếc T54,PT76 vừa tới Ngã Tư Bảy Hiền, đã bị các chiến sĩ Liên Ðoàn 81 BCND và Lữ Ðoàn 4 Nhảy Dù bắn hạ. Lịch sử VN cận đại, là những trang huyết lệ, được người lính trận viết tại chiến hào, hố bom và ngay trên cơ thể của mình, chứ không phải qua những tài liệu, nói là của Tây Tàu, Nga Mỹ, vừa được giải mả. Chính sử gia Tư Mã Thiên, nhờ bản thân bị đoạn trường , mà viết nên một thiên sử ký tới nay, vẫn được thế nhân ngưỡng phục..

Tuy văn khố Hoa Kỳ nói là đã cho giải mật nhiều tài liệu lịch sử có liên quan tới cuộc chiến vừa qua nhưng những điều vừa bật mí, thật sự chưa được đưa hết ra ánh sáng. Do muốn tìm hiểu sự thật về một cuộc chiến, đã làm cho Hoa Kỳ phải sa lầy và mang rất nhiều tai tiếng, nên suốt mấy chục năm qua, nhiều nhân vật, từ những quân nhân thuần tuý đã tham dự cuộc chiến như Ðô Ðốc Grant Sharp, Ðại Tướng William C. Westmoreland.. hay trong ngành ngoại giao như GS Tiến Sĩ Stephen Young, Robert Sharphen, William Colby.. đều thắc mắc về sự bại trận của Hoa Kỳợ, mà theo họ chẳng bao giờ có thể xảy ra, trong một cuộc chiến vô cùng chênh lệch giữa hai đối thủ, cho dù phía sau lưng VC có Liên Xô, Trung Cộng và khối Ðông Âu chống lưng giúp đỡ tận lực.

Ðúng như Ðô Ðốc Grant Sharp , cựu Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, viết trong tác phẩm nổi tiếng ‘ Strategy For Defeat ‘ (Cuộc Chiến Không Cần Thắng), trong đó vị Cựu Tư Lịnh , cũng là một tướng lãnh từng tham dự tại chiến trường Nam VN nhiều năm, nói rằng Ông và thuộc cấp dưới quyền bị các nhà lãnh đạo của nước Mỹ tại Hoa Thạnh Ðốn, cột chặt một tay, khi họ chiến đấu tại VN. Thảm kịch này mãi tới năm 1985, sau khi chính phủ Hoa Kỳ ban hành một số luật mới, cho phép giảm độ mật , thì Bộ Quốc Phòng mới cho in phổ biến hai mươi sáu trang, tóm tắt luật chiến đấu của quân lực.Hoa Kỳ tại Ðại Hàn và VN, gọi là ‘ Rules of Engagement ‘.

Ðọc Congressional Record, làm cho những lính già của VNCH phải cười ra nước mắt và thương xót cho những đồng đôi, đồng bào, suốt hai mươi năm qua, vì chiến đấu chống sự xâm lăng của Bắc Việt, mà chết oan khiên hay bị mang thương tật do đạn bom và bàn tay VC gây ra. Những luật lệ kỳ quái như Lính Mỹ không được bắn VC, trừ phi chúng tấn công trước. Không lực Mỹ không được giội bom vào xe của VC khi chúng ở cách đường mòn Trường Sơn 200m. Phi cơ Mỹ không được tấn công phi cơ Mig nếu chúng không gây hấn, không giội bom các phi cơ VC đậu yên tại phi trường. Cuối cùng, nghiêm cấm quân Mỹ truy đuổi VC, khi chúng chạy sang Lào và Kampuchia..

Chính phủ Hoa thịnh Ðốn, chẳng những cấm Quân Lực Mỹ, Ðồng Minh, VNCH không được thẳng tay tiêu diệt kẻ thù, mà còn tiết lộ những bí mật quân sự, quốc phòng cho VC biết trước, qua những lần oanh tạc tại miền Bắc, trên đường mòn HCM, hành quân Lam Sơn 719.. Ðó là tất cả những sự kiện lịch sử có thật, được Thứ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Phil Golding, thời TT.Johnson, trả lời thắc mắc của hàng ngàn gia đình tử sĩ Hoa Kỳ :’ Chúng ta đang tham gia vào một cuộc chiến giới hạn, với những mục tiêu hạn chế. Nói chung đây là một cuộc chiến vì chính trị, nên không thể tiêu diệt VC được ‘.

Do sự phản ứng càng lúc càng đông của người Mỹ, trước cái gọi là ‘ đánh không cần thắng ‘, nên dân chúng đã xuống đường, đã đảo mà báo chí thời đó, gọi là do phản chiến giựt dây. Thật sự , người Mỹ đã quá chán ngấy cái trò đem con bỏ chợ, đem trứng cho ác, dai dẳng từ thời Kennedy, Johnson, kế đó là Nixon, nên đã giận dữ đòi Hoa Thịnh Ðốn ‘ Hãy cút khỏi VN ngay, hãy chấm dứt cái trò chiến tranh nướng thịt dai dẳng vô ích này .’

Tóm lại qua cuộc chiến VN do đầu óc con buôn, người Mỹ đã đánh mất tất cả mọi ý thức về trách nhiệm và danh dự, làm tiêu tốn hơn 150 tỷ mỹ kim tiền đóng thuế của dân chúng, hại cho 55.000 chiến sĩ bị chết oan và hơn 300.000 quân nhân các cấp bị thương tật. Không có gì tồn tại với thời gian, trừ chân lý. Vì vậy những câu chuyện hề của Henry Winston, chủ tịch đảng cọng sản Mỹ, đem diễn tại Hà Nội vào tháng 5-1975, hay lời tuyên bố vung vít của Nguyễn Hữu Thọ, chủ tích bù nhìn của Mặt Trận Ma giải phóng, tại Mạc Tư Khoa, ngay khi Sài Gòn thất thủ : ‘ cám ơn báo chí và ký giả Tây Phương, đã góp phần lớn cho chiến thắng của Hà Nội, trong số này đáng kể là người Mỹ ‘.
.
Từ năm 1965, Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân dồn dập vào Nam VN, cũng là thời kỳ lửa máu dồn dập ở hậu phương . Ðây cũng là lúc ăn nên làm ra của những thông tín viên, ký giả ngoại quốc, qua những bài tường thuật , có kèm hình ảnh, không phải để phổ biến những sự thật, mà chỉ để tuyên truyền một chiều, nhằm bôi lọ những quân đội, đang trực diện với cọng sản Bắc Việt, trên chiến trường Nam VN. Có thể nói bài phóng sự chiến trường đầu tiên, của thông tín viên đài CBS tên Morley Safer, viết về cuộc hành quân của một đơn vị TQLC Mỹ, tại một làng xôi đậu, đã trở thành những mẫu thông tin ‘ ăn khách’ , theo đơn đặt hàng của thị trường Mỹ và Tây Phương lúc đó.

Cũng nhờ báo chí phản tuyên truyền, Tết Mậu Thân 1968, VC chết thảm khắp nơi, đã thành chiến thắng, chiếm được ngay cả Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn. Tàn nhẫn và đáng khinh tởm nhất, là báo chí Tây Phương, trong suốt cuộc chiến Nam VN, đã không hề một chữ tường thuật những hành vi khủng bố, giết người tàn bảo của VC trong trận Mậu Thân 1968 tại Huế, năm 1972 và những ngày cuối cùng tháng 4 đen 1975.

Từ ngày 21-1-1968 cộng sản Bắc Việt đã huy động hơn 20.000 cán binh chính qui để vây hãm căn cứ Khe Sanh, quyết tâm nhốt 6000 quân TQLC Hoa Kỳ và Tiểu Ðoàn 37 BDQ/VNCH vào trong một lòng chảo như chúng đã từng đánh bại quân Pháp năm 1954 tại Ðiện Biên Phủ. Nhưng cuối cùng căn cứ Khe Sanh vẫn đứng vững vì kỹ thuật quân sự mà Bắc Việt đã xài năm xưa tại Ðiện Biên Biên Phủ, nay đã bị Hoa Kỳ đánh bại tại Khe Sanh.

Tháng 6-1968 sau khi gần như toàn bộ cộng sản Bắc Việt đã tự ý hay bị đánh đuổi ra khỏi khu vự Khe Sanh thì người Mỹ cũng quyết định tháo gở và rút khỏi căn cứ này với lý do thật đơn giản ‘ Khe Sanh đã không có giá trị chiến lược và cần thiết ‘ khi quân cộng sản đã không còn khả năng tập trung như trước. Hơn nữa các đại đơn vị Mỹ như Sư Ðoàn 1Kỵ Binh Không Vận và SD101 Dù Mỹ đang trấn đóng tại Quảng Trị, có đủ quân số và khả năng lưu động để hành quân phản công bất kỳ ở đâu.

Thực tế vì muốn thu hút phiếu bầu trong kỳ tổng thống lần thứ 2, nên Johnson đã ra lệnh ngưng oanh tạc miền Bắc từ 31-3-1968, giúp cơ hội cho Hà Nội nhanh chóng bổ sung quân và tiếp tế cho cán binh tại Miền Nam mở cuộc tổng công kích đợt 2 vào các tỉnh thị của VNCH. Ngoài ra kế hoạch ‘ hàng rào điện tử Eye Marker ‘ của bộ trưởng quốc phòng Mc Namara tại đường ranh vỷ tuyến 17, cũng thất bại vì VC xâm nhập vào miền Nam bằng trục đường mòn thiết lập trên lảnh thổ Hạ Lào.

Tóm lại CSVN đã thành công về mặt tuyên truyền như chúng đã từng thu được năm 1954 tại bàn hội nghị Ðông Dương tại Geneve qua trận Ðiện Biên Phủ. Lần này lại dùng Khe Sanh để dương đông kích tây, tấn công vào lảnh thổ VNCH trong dịp tết Nguyên Ðán Mậu Thân 1968. Cộng Sản Hà Nội đã thất bại hoàn toàn tại Khe Sanh cũng như trận Tết Mậu Thân nhưng chúng cũng đã làm chậm lại hay phá vở kế hoạch của Tướng West sử dụng quân Mỹ đánh qua Lào để tiêu diệt con đường mòn HCM khi ông rời khỏi chức vụ.

Cuối cùng vì hậu quả của Khe Sanh và Tết Mậu Thân 1968, tổng thống Johnson không ra ứng cử nhiệm kỳ 2. Tháng 5-1970 qua thảm kịch đẳm máu tại đại học Kent State ở Ohio, đã khiến cho tổng thống Nixon không còn con đường lựa chon nào khác là phải rút quân và bỏ VNCH cho cộng sản quốc tế Hà Nội. Bắc Việt đã thua quân lực Mỹ và VNCH khắp các chiến trường nhưng chúng đã đánh bại chánh phủ Hoa Kỳ ngay tai Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Ðài ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, trong cuộc chiến tranh VN vừa qua.

Với đầu óc lắt léo nói một đàng làm một ngã của ông Obama như mọi người đã thấy và nghe từ 10 ngày qua, nên sự kiện nhắc tới trận Khe Sanh (1967-1968) thời chiến tranh VN sẽ mang hàm ý ‘ ai muốn nghĩ sao củng được ‘ nghĩa là muốn xưng tụng thì cứ xưng tụng, còn chối bỏ thì cứ coi như đó là một bài học của nước Mỹ để rút kinh nghiệm tại Iraq và A Phú Hản.

Tuy nhiên đối với người tị nạn VN nhất là những người lính già còn sống sót, chúng ta phải cám ơn ông Obama đã nhắc tới địa danh Khe Sanh, để mọi người cùng hảnh diện về sự can trường của những chiến sĩ Tiểu Ðoàn 21 và 37 BDQ/VNCH suốt thời gian tham chiến bên cạnh quân lực Hoa Kỳ, chẳng những làm cho giặc cộng kinh hoàng bạt vía mà còn khiến cho người Mỹ cũng nể phục và ngưởng kính QLVNCH.-/-



Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng Giêng 2009
Mường Giang

Tuesday, February 3, 2009

Tôi thấy và nghe được gì ở Sài Gòn / Tháng Tư Đen


Ðây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xã hội với những phương pháp khoa học của nó - mà chỉ là những điều vụn vặt mắt thấy tận nơi, tai nghe tận chỗ - ghi lại một cách trung thực...

Tôi thấy bộ mặt Sàigòn đổi mới với: Những khách sạn 5 sao, 4 sao lộng lẫy. Ðổi mới với những nhà hàng "vĩ đại" trên các tuyến đường du lịch. Với những trung tâm "thư giãn" sang trọng, quý phái cỡ câu lạc bộ Lan Anh. Với những vũ trường cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hànội. Với những trường Trung học tư thục mang tên Mỹ, giáo sư Mỹ, chương trình học của Mỹ, giảng dạy bằng tiếng Mỹ - học sinh phải trả học phí bằng tiền Mỹ - 600US$ đến 1000US$ /tháng.. (Giai cấp nào đủ sức trả học phí nầy cho con? )

Tôi cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương tôn công tử "đỏ", các nhà giàu mới - thân nhân các quyền lực đỏ đứng đàng sau, các quan chức đỏ đô la đầy túi. Họ đến đây để "thư giãn", uống rượu, đánh bạc, cá độ và tìm gái. Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP, XO là chuyện thường. Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn đô la Mỹ cũng không phải là điều lạ. Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ để trả một chai rượu XO. Vụ MPU.18 cá độ hàng triệu US $ đã bị phanh phui..là một thí dụ cụ thể.Vũ trường New Century bị Công an đến giải tán vì các công tử và tiểu thư con các quan chức lớn nhảy đã rồi.... " lắc" suốt đêm. Vài hôm sau - đâu cũng vào đó... Tôi cũng thấy Sàigòn- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt thở - vài tòa cao ốc mọc lên vô trật tự - ở xa xa, có cái trông giống như chiếc hộp quẹt.. nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng. Kiến trúc hiện đại.Vật liệu nhập cảng đắc tiền. Nhà trong hẻm - phần lớn cũng lên nhiều tầng cao nghệu. Có nhiều khu xây cất bừa bãi, nhô ra thụt vào như những chiếc răng lòi xỉ vô duyên , lấn chiếm ngang ngược đất công hoặc lề đường....

Tôi thấy Sàigòn bị ô nhiễm trầm trọng với hằng triệu tiếng động cơ, ngày đêm đinh tai nhức óc và 3.000.000 chiếc Honda - phun khói mịt mù - chưa kể đến xe hơi..Và hệ thống cống rãnh lạc hậu.. mỗi khi trời mưa lớn - nước rút không kịp, ứ đọng tràn ngập nhà cửa. Hệ thống đổ rác còn lạc hậu.. không đáp ứng nổi nhu cầu thải rác của 8.000.000 dân nhung nhúc như kiến.. Sàigòn đầy dẫy những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại chỗ..hàng lậu của Trung quốc tràn vào vô số kể.. Máu kinh tế Việt Nam bị loãng ra. Nhưng chế độ xã nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhãn hiệu Trung quốc giá khoảng chừng 1000 đô la Mỹ..chưa kể hàng Trung quốc lậu thuế, rẻ mạt.. Thuốc lá và bia - bia nội, bia ngoại - có đủ.. Nhậu và hút là 2 cái mốt bình dân thời thượng nhứt ở Sàigòn. Ðảng viên, cán bộ - giai cấp thống trị - nhậu.. Già nhậu, trẻ nhậu... con nít cũng tập tành nhậu. Hút thì khỏi nói.. Giai cấp cán bộ răng đen mã tấu bây giờ là giai cấp nắm thống trị - đã lột xác - không còn quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa - mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5, Craven A, trong túi. Lãnh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút - thậm chí con nít 9, 10 tuổi ở đồng quê cũng phì phà điếu thuốc một cách khoái trá.. Các hãng bia và thuốc lá ngoại quốc đã tìm được một thị trường tiêu thụ béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục cà vạt hẳn hoi, xe hơi bóng loáng.. nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mốc mốc.. cũng không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê lên Tỉnh.

Tôi còn thấy Sàigòn với hiện tượng "tiếm công vi tư" lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ.... bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê.. Chưa thỏa mãn - ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng.. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy.Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu - nơi gặp gỡ của 2 đường Nguyễn Trãi và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ - thì rõ.

Còn nhiều.. rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn lề đường nhan nhản ở khắp Saigòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể : Một công thự tại vườn Tao đàn (có lẽ là nhà cấp cho viên Giám đốc Công viên Tao Đàn) - mặt tiền ngó vào trong - mặt hậu nhìn ra phía đường Nguyễn Du (Taberd cũ ) - bèn có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương mãi mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du, trị giá mỗi căn, nhiều trăm ngàn mỹ kim - ngon ơ! Tương tự như vậy - ở góc đường Thành Thái và Cộng Hòa cũ... trước sân nhà của ông Hiệu Trưởng trường Quốc gia Sư Phạm trước 75 - phố thương mãi, quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền. Ngang ngược và lộng hành nhứt là 2 căn phố thương mãi bên hông trường Trương minh Ký, đường Trần hưng Ðạo, chễm chệ xây lên ngay bên góc phải sân trường như thách đố dân chúng..Còn trên lề đường khá rộng trước câu lạc bộ CSS cũ, bây giờ là câu lạc bộ Lao động - nhiều gian hàng thương mãi bán quần áo, giày vớ thể thao.. buôn bán ầm ĩ, náo nhiệt suốt ngày.

Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà. Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn.Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai?Tất nhiên là phải thưa với công an.Không lẽ công an xử công an? Tướng CS Trần Ðộ phản ảnh còn rõ rệt hơn: "... Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Ðảng. Không thể nào chống tham nhũng được vì nếu Ðảng chống tham nhũng thì Ðảng chống lại Ðảng sao?"("Nhật ký Rồng rắn" của Trần Ðộ).

Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng xình bỏ ngoài chiếc quần màu *** ngựa của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sàigòn - đã biến mất.. Cũng không còn thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê thánh Tôn, Tự do những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ - mũi và miệng bịt kín bằng "khẩu trang", găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay.. trên đường phố.


Tôi còn thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ, những thùng carton và bao túi nylon, chồng chất lên nhau cao ngất như sắp đổ xuống...những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế nhà trường.. những anh phế binh cụt tay, cụt chưn, lê lết trên một miếng ván gỗ... đi bán vé số (một cách ăn xin trá hình)... những em bé mặt mũi lem luốc đang bươi những đống rác để lượm các bao nylon, lon coca, chai bia đem về bán.. hay những em bé rách rưới lang thang trước những tiệm ăn.. chờ khách ăn xong nhào vô bưng tô súp cặn húp vội đỡ lòng..còn những trẻ khác - mắt láo liên trông chừng công an, tay chìa chiếc hộp, làm dấu mời khách đánh giày -..những em bé gái đang hì hục đẩy khách lên đồi cát bằng miếng ván có gắn bánh xe ở "Ðồi cát bay" Phan Thiết. Hỏi "sao em không đi học"? - trả lời: "Nhà không đủ cơm ăn, con làm cái nầy để kiếm thêm cơm ăn.".. Nhiều bà mẹ nhăn nhó ôm thằng bé mặt mày xanh lét, không còn chút máu, chờ suốt buổi sáng... trước tiếng quát tháo ầm ĩ.. vẫn chưa tới phiên mình vào bệnh viện chữa trị cho con.. Nghe nói mấy năm trước đây có nhiều bà mẹ đứng trước bệnh viện Chợ Rẩy chờ bán máu mình để qua cơn đói khổ ngặt nghèo như nhà văn Trần trung Ðạo đã mô tả..Lại nghe một bệnh nhân dứng cạnh đó, cũng chờ đến lượt mình, than thở : " Ở đây là vậy đó ông ơi! Chửa bệnh phải có tiền - trước nhứt phải qua cửa - lọt qua cửa thì còn nhiều khâu - khâu nào cũng phải chìa tiền. Muốn sống - phải có tiền. Chết cũng phải có tiền.

Bộ mặt Sàigòn "đổi mới" bằng những khách sạn lộng lẫy, những câu lạc bộ thời thượng, những phố xá thương mãi sang trọng, những hiệu kim hoàn lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại, những vũ trường cực kỳ tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật liệu ngoại đắt tiền.. trang trí cây cảnh như một mảng vườn Thượng uyển của vua chúa ngày xưa.. những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố - nhiều người chóa mắt.. choáng váng, cho là "Việt Nam bây giờ tiến bộ quá". Riêng Phó thường dân tôi tự nghĩ : Như vậy có phải là tiến bộ không? Sự tiến bộ của một nước cần phải nhìn về nhiều mặt : Mặt y tế và giáo dục, mặt đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng.. Lợi tức đầu người của Việt Nam - theo thống kê của báo The Economist - bằng : 555 US $ năm 2007 (Hà Nội bốc lên 730 US $) chỉ hơn Lào và Cambodia chút đỉnh. So với các nước láng giềng: Thái Lan : 2550 US $ - Phi luật Tân : 1040US$ - Nam Dương : 1160US$.Tân gia Ba 24840US$.(The Economist World, năm 2007 - p.158, 176, 238) - Việt Nam còn lẹt đẹt đàng sau rất xa. Và trước bộ mặt thay đổi choáng ngợp nầy - nếu đặt câu hỏi : Ai là chủ nhân của những xe hơi, khách sạn- vũ trường, những thương hiệu lớn, những biệt thự lộng lẫy kia? - thì câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ đảng viên (tại chức hoặc giải ngũ) hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở thôn quê - giai cấp giàu có bây giờ là ai? giai cấp địa chủ là ai? Có phải do của cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán làm ăn mà có ?

Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng "đánh Tây, đuổi Mỹ" - cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa - thì dân miền Nam (gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) vẫn thấy một sự thật. Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi trọng yếu của Sàgòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sàigòn.. và các khu phố sầm uất nhứt.. vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản - từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong - cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Ðắc, Phạm thị Trước.. hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cất lại..nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v.v.. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ...

Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sàigòn.. thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN. (Tất nhiên là vợ con, thân nhân cán bộ lớn). Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra). Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ - dĩ nhiên - vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc..Cán bộ, công nhân viên trọng yếu - cũng đều là người Bắc - trừ một số cán bộ gốc miền Nam tập kết - theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam - thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc. Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới - từ Trung ương đến địa phương - từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xã gần - đều do đảng viên người miền Bắc XHCN - nắm giữ.Những công Ty dịch vụ có tầm cỡ, những công Ty thương mãi sản xuất lớn - điển hình là một công Ty vận tải và du lịch có đến 6000 xe hơi đủ loại..chủ nhân cũng là người Bắc XHCN.Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất - cũng do người miền Bắc XHCN nắm giữ.

Ðó là sự thật trước mắt ai cũng thấy. Còn những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp - nhà cửa của tù cải tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại những lượng vàng thu được từ những người vượt biên bán chánh thức - tài sản những người thuộc diện tư sản - toàn bộ tài sản nầy từ Saigòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam - được đem đi đâu? - Không ai biết.

Thông thường - những của cải nầy phải được sung vào công quỹ - để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẽ.. Thế nhưng - sự thật trước nhứt - là các ông đem chia chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN (Ðọc Ðất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang). Ông lớn lấy tài sản lớn. Ông nhỏ - nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết... đem cho công Ty ngoại quốc thuê. Ðiều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy - vì lo sợ cái gì đó - bèn đem " bán non" những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cải tạo đã sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu - không ngoại lệ. Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại - là những biện pháp vá víu. Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN.

Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá..đều bị "û giải phóng" ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách : Ðuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xả tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung( chủ nhà chịu không nổi.... phải bỏ đi ), đổi tiền để vô sản hóa người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ..để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê... Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào "mua" nhà Saigòn với giá gần như cho không...và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Saigòn.

Mang xe tăng T.54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên "xẻ dọc Trường Sơn" bằng máu, nước mắt và xác chết... vào xâm chiếm miền Nam . Chiêu bài là "giải phóng" nhân dân miền Nam - nhưng sự thật khó chối cãi được - là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai, của cải, đuổi dân Saigòn (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) ra khỏi Thủ Ðô bằng nhiều chánh sách khác nhau - để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi - những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực.. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc.(Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du học Mỹ là trường hợp điển hình). Như vậy hành vi nầy gọi là gì?Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh - một mình đối diện với lương tâm thuần lương của mình - các ông tự gọi mình đi.

Ðến thời "mở cửa" - cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn..gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương - đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đường sá, xây cất đại công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỹ tiền tệ quốc tế - những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt.. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn.. no bóc ké.. Nhiều công trình vừa xây cất xong..đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ diễn hình : Một bệnh viện gần chợ "û cua" Long Hồ - quê hương của Phạm Hùng - nước vôi còn chưa ráo... đã muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được.

Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng nhứt - là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực - những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê - nhứt là miền Nam - ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên.. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn - đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt..Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng cực.

Nhà văn - bác sĩ Hoàng Chính - gọi thời kỳ sau 75 là thời "Bắc thuộc" - "Năm Bắc thuộc thứ 2: Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh.. - Năm Bắc thuộc thứ 6: Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán. - Năm Bắc thuộc thứ 12: Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười.."

Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.

BỘ MẶT THÔN QUÊ MIỀN NAM

Có nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 32 năm dưới chế độ cọng sản. Ðể được trung thực - người viết ghi những điều thấy và nghe - không bình luận - tại những nơi đã đi qua. Thôn quê miền Nam - những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối. Ðường sá có tu sửa phần nào..Ðường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái nứa, Cái chuối xã Long Mỹ VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. "Cầu tre lắt lẻo", cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ). Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái Bè, Cái Răng ) nay không còn thấy nữa. Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ - chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn - còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy - dọc theo bờ sông Long Hồ - một số nhà gạch nhỏ mới cất..xen kẻ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà cú (Vĩnh Bình), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Ðường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi..

Hai bên đường xe chạy từ Mỹ Tho, Cao Lãnh, Châu Ðốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ. Nhìn chung - có một sự thay đổi rõ rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc.. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất..hoặc thụt sâu vào trong, không còn thấy nữa. Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai oằn, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu, vườn mận Hồng Ðào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương...


Dưới sông - từ kinh Vĩnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang - hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đỡ sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau. Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế - cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá.. Basa, cá điêu hồng v.v.. ở dọc bờ sông khá dài... Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh. Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tiền và sông Hậu - người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỹ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa.. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời : "Ði lấy Ðại Hàn, Ðài Loan hết rồi ông ơi!" Tôi hỏi thêm : "Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập.. các cô gái nầy không sợ sao ông? - "Biết hết - mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Ðại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông. Biết đâu gặp may." Câu chuyện gái Việt lấy chồng Ðại Hàn, Ðài Loan hiện không ai là không biết.

Tờ Tuổi trẻ - số ra ngày mùng 1 Tết năm Ðinh Hợi - trong bài: "Nỗi đau từ những con số"- có nói đến số phận của 65000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Ðài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con. Cũng tờ báo nầy: "Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang "bày hàng" để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến lượt mình " Và cũng tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết : "Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saigòn để dự tuyển.Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái. Dịch vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng.Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện.Thậm chí - những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm".

Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần lượt vào trong.. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: "Ðó là những người con gái đi lấy chồng Ðài Loan và Ðại Hàn. Hàng bên trong là những người đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa". Tôi nhìn kỹ các cô gái nầy tuổi rất trẻ.. khoảng chừng 18 đến 20.... đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện - tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Ðây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề.

Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức "môi giới hôn nhân lậu"- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma cau.. để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục.. các cô gái làm điếm.. hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ.. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhản xảy ra hằng tuần-thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11... Sàigòn.

Cho dù chánh thức hay lậu... hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả gần giống nhau. Nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Ðài Loan, Ðại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn - ban ngày làm nô dịch.. ban đêm phục vụ tình dục.. rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gở vốn lại...(Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Ðài Bắc là một bằng chứng) Còn lậu thì.. bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm cảnh.. biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại.Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu..lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời! Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập.. nầy khi lấy chồng Ðài Loan, Ðại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt..?

Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người - những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN. Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để được giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Ðài Loan, Ðại Hàn?

Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hóa...bừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng... đất đai canh tác bị thu hẹp. Dân số gia tăng... Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào.. Nông dân miền Nam thiếu đất canh tác.. Các cô gái miền Tây.. quẫn bách vì không có việc làm kinh niên - cuộc sống vô vọng mịt mờ - có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến... khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Ðại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ. Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS ( sinh sau 75 ) - những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ.. thang giá trị bị đảo lộn.. nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước.. Do vậy - khi bị dồn vào đường cùng.. họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn.. Nhưng động lực chánh là nghèo..


NGHÈO...

Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Ðại Hàn và Ðài Loan... để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát.. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) - vựa lúa nuôi sống cả nước - sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy - nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ÐBSH)? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam - thì tỷ lệ ÐBSCL năm 1998: ÐBSC: 37%. ÐBSH: 29%. Năm 2002: ÐBSCL: 13 %. ÐBSH: 9%.(Nhà x.b Thống kê - Hànội, trang 13 - LVB trích
dẫn ).

Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bằng tiền hay bằng gạo) - mức sống (bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa) - ÐBSCL vẫn nghèo hơn ÐBSH - bởi lẽ khi nghèo về lương thực - thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hóa.

Ðó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học. Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt, nghe tận nơi của người viết: Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều - cái nghèo của một nông dân, nhà dột nát.. khi trời mưa lúc ban đêm..không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp.. trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc.... Cái nghèo của một người đi mượn tiền, mượn gạo.. tới ngày hẹn không tiền trả.. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp... cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ..mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân.

Tục ngữ bình dân có câu: Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời.- Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chài lưới.. ở sông Long Hồ. Ðời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy : nghề đi nhủi tép.. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay (2007) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch.. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te. Ðời ông nội - nghèo! Ðời cha nghèo! Ðời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo - không đổi đời cho người nghèo thành giàu.Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo.

Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác - còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền..trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : "Nông dân đã nghèo, đất đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được? "


MIỀN NAM - 32 NĂM DƯỚI CHẾ ÐÔ CỘNG SẢN

Kinh tế Việt Nam - trong đó có miền Nam - có chút tiến bộ - so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Ðối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt.. cầm lồng đèn đỏ... Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục - các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rỗng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể.. Và hiện tại - muốn phát triển công nghiệp - nhà cầm quyền địa phương - theo lệnh Ðảng - mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược.. Lòng dân phẫn uất, kêu la than khóc.. Oán hận ngút trời xanh! ( 19 Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàgòn ). Như vậy có gọi là phát triển không?


KẾT LUẬN

- 32 năm nhìn lại: Người ta thấy miền Bắc đã "giải phóng" dân Sàigòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau. "Giải phóng" miền ÐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ."Giải phóng"quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển..."Giải phóng" phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm "vợ nô lệ", đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan...

- 32 năm nhìn lại: Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website (2003) - bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2005). Chỉ trong năm 2005 - có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF - LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam)

- 32 năm nhìn lại: Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L''expresse ngày 29-8-2002: "Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc - người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở đó "

- 32 năm nhìn lại: Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam - khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc.

Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Một đảng viên kỳ cựu của chế độ Cộng sản lên tiếng cảnh cáo: "Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc. Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu".

Bài viết của:
Nguyễn Văn Trấn

Friday, January 16, 2009

Hình ảnh người chiến sĩ Cộng Hòa qua ý nhạc mùa chinh chiến



Suốt dọc chiều dài của cuộc chiến tranh tự vệ của quân và dân miền Nam Việt Nam chống lại cuộc xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt trong cả hai thời Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa, hình ảnh người chiến sĩ Cộng Hòa luôn được tô đậm nét cả trong văn chương và thi ca lẫn trong nhạc kịch và điện ảnh như là những chàng trai thời tao loạn đành lòng “xếp bút nghiên theo việc đao binh,” giã từ mái ấm gia đình nơi có mẹ già và đàn em dại hoặc người vợ hiền và đứa con thơ để lên đường cầm súng bảo vệ quê hương:
“Hỡi người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt
trên bờ lau sậy nầy!
Anh là ai?”
Lời mở đầu từ bản nhạc chủ đề phim “Người Tình Không Chân Dung” rất thịnh hành tại miền Nam Việt Nam hồi cuối thập niên 1960 nói lên cái thắc mắc của mọi người đang vui hưởng tự do, dân chủ tại miền Nam Việt Nam giữa lúc Cộng Sản Bắc Việt và khối Cộng Sản Quốc Tế đang mở cuộc tấn công xâm lược và lấn chiếm Việt Nam Cộng Hòa -trong đó đặc biệt phải kể tới những cô gái mới lớn, những người em gái hậu phương và những “người yêu của lính”- về chân dung đích thực của người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, hay gọi một cách thân thương hơn, là “anh lính Cộng Hòa.”
Người lính Cộng Hòa này có thể là một anh “tân binh quân dịch” lên đường thi hành nghĩa vụ cầm súng giết giặc trong thời gian một vài năm rồi lại trở về hậu phương tiếp tục việc học hành hoặc làm việc tại các nhà máy hay chốn văn phòng để cùng toàn dân chung sức xây dựng quê hương. Không đâu thể hiện hình ảnh chàng tân binh quân dịch này sống động cho bằng mấy câu ca sau đây từ một nhạc phẩm nói về một chàng thanh niên bằng lòng lên đường làm nghĩa vụ trai thời tao loạn để rồi lúc nào cũng được những người em gái hậu phương yêu mến và trao duyên:
“Người thường tìm sang giàu tới
Lòng này thì khác người ơi
Ước thề hứa duyên cho người
Cầm cây súng tòng quân tươi cười...”
Cũng từ ý nhạc mùa chinh chiến, người lính chiến là những chàng trai tuổi đời vừa chớm đôi mươi, và “Tình Anh Lính Chiến” luôn là mối tình bao la của những chàng trai trẻ đang là bè bạn thân thiết với nhau, dù kẻ ở hậu tuyến ấm êm, người nơi chiến trường gai lửa:
“Anh chiến trường tôi nơi hậu tuyến
Ðời lính chiến xuôi gặp nhau đây
Hai đứa mình còn mỗi đêm nay
Nói gì cạn niềm thương rồi ngày mai ta lên đường...”
Nhưng cho dù ngày chiến chinh dài có làm cho đôi bạn phải cách xa, lòng họ vẫn luôn nghĩ đến nhau:
“Mai nếu đời ngăn chia ngàn lối
Ðừng quên nhé những ngày bên nhau...”
Ðó là đối với các bạn trai là chiến binh cùng trang lứa tại Miền Nam Việt Nam lúc nước nhà đang nghiêng ngả vì quân Cộng Sản xâm lược. Còn với đối tượng khác phái của mình, tức là những cô gái mới lớn, những người em gái hậu phương và những “người yêu của lính” thì chân dung của người chiến sĩ Cộng Hòa ra sao?
“Tuổi đời vừa mới đôi mươi
Không đẹp, người cũng dễ coi
Ðộc thân, vui tính, tròn ba năm lính
Chưa lần có bạn tâm tình...”
Hình ảnh người lính chiến có khi rất xa xăm, mơ hồ và không mấy rõ nét, ngoài đặc điểm dễ nhận biết là vẻ phong trần trên dáng dấp người trai trẻ:
“Này chàng, từ hậu phương hay nơi biên cương
Nơi đây chàng đến, áo vương bụi đường
Nhìn chàng là người trai ôi phong sương...”
Dù chưa biết rõ gốc tích của chàng trai, ấy thế mà em đã đâm ra yêu chàng ngay tự “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” mới chết chứ! Có thể đó là lúc em vừa nhìn thấy bóng dáng chàng cùng đồng đội bước đi trên bờ đê hay một mình chàng lang thang múc nước đổ vào bi-đông bên dòng sông vắng:
“Nhưng tôi đã mến biết bao lâu rồi...
Chàng từ miền ngược xuôi hay nơi đâu
Nơi đây chàng đến kết duyên ban đầu
Một lời mặn mà xin trao cho nhau
Tuy tôi chưa biết hỡi chàng là ai?”
Lý do của tình em yêu anh thì nhiều lắm, kể làm sao cho hết, bởi vì, như lời một nhà văn Pháp nào đó mà em từng đọc qua, thì “trái tim có những lý do mà lý trí không làm sao biết được”:
“Em vẫn yêu chàng vì biển đời trong khóe mắt
Em vẫn yêu chàng vì trời tình in trên môi
Em vẫn yêu chàng vì đời chàng là gió sương
Em vẫn yêu chàng vì đời chàng là hiên ngang...”
Hình ảnh người lính chiến có khi rất đơn sơ và khái quát, khó tả ra cho rõ nét lắm. Nhưng, nhìn chung, sắc màu gây ấn tượng sâu đậm ban đầu trong trái tim và tâm hồn em vẫn là màu xanh của lá trên bộ chiến y lúc chàng trai dừng bước quân hành ngoài bìa làng hay qua xóm nhỏ:
“Hỡi người trai lính em yêu ơi!
Hỡi người anh chốn xa xôi
Áo xanh pha màu lá...”
Hoặc, đôi khi, trên chiếc áo phong sương còn bám đầy những gió bụi đường xa kia, em thoáng thấy cả màu hoa rừng:
“Ngày anh ra đi, với chiếc áo xanh màu hoa.
Ngày anh ra đi, vai súng hiên ngang đường xa...”
Rồi, chiếc áo trận của anh, sau bao năm dài chinh chiến, nay đã bạc màu, đặc biệt là khi vai áo anh cận kề bên mái tóc em:
Tóc em lúa vừa xanh...
Anh là người lính chiến
Áo bạc màu đấu tranh...
Hành trang của người lính cũng rất đơn sơ. Thử hỏi, hành quân trên bộ xa đến như vậy thì, ngoài những trang bị cần thiết cho nhiệm vụ chiến đấu, làm sao người lính có thể mang được thêm nhiều thứ hành trang khác ngoài chiếc ba-lô và súng đạn trên người:
Ba-lô thay người tình yêu dấu
Ðêm đêm riêng mình nằm gối đầu...
Nhưng chính cũng từ trên chiếc ba-lô này mà bao nhiêu lá thư tình gởi về người em gái hậu phương đã được viết lên mỗi khi người trai lính chiến có dịp dừng bước quân hành, hoặc bên một cánh rừng hoang đầy những hoa trinh nữ hoặc dọc theo bờ suối rộn tiếng chim ca:
Thư của lính...
Ba-lô làm bàn nên nét chữ không ngay...
Và cây súng của người chiến binh được coi như là chỗ dựa vững chắc cho tình yêu đôi lứa, nhất là trong những đêm trăng lạnh lẽo nơi góc núi, lưng đồi anh nằm nhớ em vô cùng, người nơi xa xăm phương trời ấy:
Ðêm nằm gối súng, chung ánh trăng
Nhưng đôi đường ly cách trong tình thương...
Rồi, để trang trải niềm thương, nỗi nhớ của mình trên giấy, người lính chiến tận dụng mọi phút giây thuận tiện có được để viết thư cho người yêu, lòng vẫn nghĩ rằng thật may mắn cho một người chiến binh xa gia đình như anh có được tình em để đêm mong, ngày nhớ:
“Nếu hôm xưa không đến tìm em
Với muôn lời nồng say thì giờ trong bóng đêm
Tình đâu vấn vương và biết tìm ai nhớ thương?
Ðêm nay gối súng viết lên dòng thư gởi em...”
Ðó cũng chỉ là vì, như em luôn tự hỏi lòng, không biết tự bao giờ mà tình em trao gởi về anh, dẫu rằng em vẫn biết yêu anh là đành chấp nhận cách xa, thương nhớ, vì đôi khi khoảng không gian ngăn cách kia lại vời vợi đến muôn trùng:
“Nếu em không là người yêu của lính...
Ai khẽ nhắc tên em muôn ngàn lần
Và giữa chốn muôn trùng
Ai viết tên em lên tay súng?”
Nhưng nếu có dịp nào cận kề người lính chiến –như nhân lúc “hôm nao mình nắm tay khi anh lại chốn đây”– thì em thấy những nét chính trong chân dung người tình là lính chiến của em là như thế này:
“Em thương sao là thương
Thương mắt anh sáng ngời
Thương da anh sạm nắng
Thương tóc xanh vương bụi đường...”
Em vẫn không hiểu sao mà người lính, dù thật bình thường và chẳng giàu sang gì trong xã hội, vẫn là kỳ vọng lớn lao nhất của bao người em gái hậu phương, nhiều em lại rất đẹp, rất kiêu sa. À! Em hiểu ra rồi: Người lính tuy nghèo tiền nhưng lại giàu tình, và đó mới là điều mà nhiều người con gái cùng trang lứa với em hằng mơ ước:
“Dù rằng đời lính không giàu
Mà chắc không nghèo tình yêu!”
Và, quan trọng hơn thế nữa, người lính luôn là biểu tượng của tình yêu vững chắc. Giữa mùa ly loạn, khi có biết bao cánh hoa lạc bước giữa rừng gươm, chỉ có anh mới là người đủ khả năng ra tay bảo vệ tình yêu đó:
“Anh!
Nếu thương cho một đời hoa
Thì xin giữ yên quê nhà...
Xin anh che chở
Tấm đời nhỏ bé hậu phương
Như câu chuyện tình “người hùng và giai nhân”
Những cánh hoa hồng
Bên hàng rào kẽm, hầm chông
Vẫn mong bàn tay
Người đem tưới vun trong vườn...”
Nhưng người lính cần có tên riêng để cho em gọi hay không? Trong phút đầu gặp nhau tinh tú quay cuồng đó, câu trả lời là ‘không,’ không cần anh yêu của em phải có tên riêng, bởi vì anh là lính mà, đơn giản thế thôi, em đâu có đòi hỏi gì nhiều nơi anh:
Mỗi khi có ai muốn hỏi tên anh
Em bảo tên anh là lính
Lính luôn đa tình, đáng yêu...
Mỗi người một hoàn cảnh, các chàng trai mùa ly loạn bước vào nghiệp lính vì nhiều lý do khác nhau. Có khi là vì chàng phải đi quân dịch để làm tròn bổn phận người công dân lúc nước nhà đang ngửa nghiêng vì giặc Cộng xâm lấn:
“Vừa rồi làng có truyền tin
Nói rằng nước non đang mong
Ði quân dịch là thương nòi giống...”
Có khi là do chàng thôi học để theo bạn bè cùng khoác chinh y cho thỏa mộng sông hồ, “nam nhi chi chí”:
Từ khi anh thôi học
Và từ khi anh khoác áo treillis...
Cũng có khi vì thi rớt, chàng trai đâm chán ngán bước đường công danh dài thăm thẳm mà chủ yếu là để phục vụ cho hạnh phúc riêng tư chứ chưa chắc đã giúp ích được gì nhiều cho tổ quốc, cho quê hương. Thôi thì ai sao, ta vậy:
Thi hỏng Tú Tài
Ta đợi ngày đi...
Nhưng, trong hầu hết mọi trường hợp, đi lính là hành động hợp thời nhất và xứng đáng nhất để đáp lại lời kêu gọi của quê hương đang lúc hận thù đằng đằng, sơn hà nguy biến:
“Này thanh niên ơi! Ðứng lên đáp lời sông núi
Ðồng lòng cùng đi hy sinh, tiếc gì thân sống?”
Hoặc:
“Lúc đất nước muốn bao người con thân yêu ra đi
Hối tiếc tấm thân làm chi?”
Và thế là:
“Tình nước, lòng trai
Anh hiên ngang đối diện mặt trời
Chân qua bốn mùa
Thương vác lên vai...”
Vì thế cho nên:
“Hỡi người em thương!
Chưa tròn thề ước
Nhưng tình đất nước
Ôi lớn lao không đành lòng dệt mộng thắm riêng tư...”
Cũng như vì, qua một phút suy tư, anh chợt hiểu ra rằng:
“Dẫu cho tình đôi ta bao la như chiều vàng
Duyên sông hồ chắn ngang
Quê hương tình vẫn hơn
Nên đêm trăng vàng đẹp hành trang xuôi vạn lý
Anh nói câu tạ từ...”
Một khi đã chấp nhận đời lính rồi, người lính bỏ lại đằng sau tất cả những kỷ niệm thân thương, dù vẫn ôm ấp trong lòng niềm ước mơ đôi lứa:
“Tay ghì súng nghe mùi tang tóc đâu đây
Tâm hồn se vơi chẳng vơi, đầy chẳng đầy
Khi vào lính nhận nếp sống đơn sơ
Rơi đằng sau nhiều đợi chờ
Hai màu áo, một niềm mơ...”
Ðã là người yêu của lính, nhưng lòng em vẫn thắc mắc hoài... Người lính có lãng mạn hay không? Câu trả lời là: “Có chứ, sao lại không?” Hỡi em yêu, hãy nghe lời một chàng thủy thủ phong sương thổ lộ tâm tình với người yêu đơn côi của mình thì khắc biết:
“Nhớ lúc quyến luyến trên bến sông cô liêu
Sóng xô trong lòng người hải hồ...”
Người lính có đa tình không? Có chứ. Người trai nơi chiến tuyến, tuy chẳng màu mè, chải chuốt gì so với các chàng trai sang cả nơi phố thị nhưng lại rất đa tình, đa tình nhiều hơn là em tưởng:
“Anh là lính đa tình
Tình non sông rất nặng
Tình hải hồ ôm mộng
Tình vũ trụ ngát say
Và mối tình rất êm đềm
Là tình riêng trong lòng anh yêu em...”
Tuy đa tình, người lính lại rất chung tình, mặc dù đời chiến binh nay đây, mai đó đã khiến cho người lính bị mang tiếng oan là nay quen cô này, mai mê cô nọ, mốt hẹn cô kia:
“Mà dẫu lính hay đa tình nhân
Mãi mãi vẫn yêu, chỉ yêu một người
Một người mà thôi, và yêu trọn đời
Một giây về phép anh xin dành cho em đó!”
Vì thế, mặc dù đang rộn bước quân hành đâu đó trên bốn vùng chiến thuật và ngày đêm đang phải đối diện với hiểm nguy khi kẻ thù rình rập từng giờ, từng phút ngay trên đồng lúa vàng mênh mông hay giữa rừng già heo hút, anh vẫn cứ nhớ em:
“Chiều hành quân đã đôi lần chợt nghe nhớ em
Vẽ bóng hình vào vách núi rừng già...”
Ðể rồi lại phải lo kiếm một cái gì đặng lỡ mai kia, mốt no đôi ta gặp lại, thì lấy đó mà làm quà tặng em:
“Chợt nhìn bên suối có một loài hoa thắm tươi
Muôn đời chẳng phai... đem về tặng em...”
Bởi vì chính em cũng đã có đôi lần dùng câu ca, tiếng hát để nói về món quà đơn sơ nhưng tình tứ đó của người lính chiến mang về từ chốn núi rừng heo hút:
“Nếu em không là người yêu của lính...
Ai đem cánh hoa rừng về tặng em?”
Ðối với anh thì, cũng giống như em yêu thôi, ngoài tình yêu núi sông, dĩ nhiên tình yêu đôi lứa chính là lẽ sống của đời anh:
“Một đêm dài nhớ em
Một đêm dài trắng đêm
Nhìn sao rừng thấy em
Nhìn núi đồi nhớ em
Người anh yêu trọn đời...
Ngoài yêu núi sông thì tim này dâng cả em...”
Vì thế, không ai hiểu hết tầm mức quan trọng của tình đôi ta hơn là những người trai lính chiến như anh, với sứ mạng vừa “bảo quốc” vừa “an dân,” yêu nước một hồi để rồi bỗng dưng đến một ngày lại đâm ra yêu luôn cả em:
“Lính đem chữ yêu viết nên cuộc sống
Lính yêu núi sông, yêu cả giai nhân...”
Dù rằng đã là con người bằng xương, bằng thịt thì mấy ai giữ được lòng mình luôn cứng rắn trước những xa cách trong tình yêu đôi lứa:
“Ðôi khi thấy buồn
Vì yêu đời lính chiến bấp bênh triền sóng
Ðể em thương nhớ
Ðôi cánh chim trời tung cánh bạt trùng khơi...”
Vì thế, tình yêu của lính lúc nào cũng nồng nàn, say đắm và đầy những mộng mơ:
“Nhớ đêm hành quân, thân ướt mèm
Băng dòng sông loang trăng đầy
Lòng muốn vớt ánh trăng thề viết tên em!”
Ðể rồi tình yêu đó lại được thể hiện qua những cử chỉ và hành động hết sức đáng yêu:
“Có lúc muốn hái hoa rừng
Ðem gởi về em thêu áo
Và ngàn vì sao trên trời
Kết thành một chuỗi em đeo...”
Và, có khi, tình yêu của lính lại trở nên cuồng nhiệt, dữ dội và mênh mông:
“Khi lính đã yêu bướm ghen tình thắm
Khi lính đã yêu gió trăng ngẩn ngơ
Khi lính đã yêu rừng tàn núi lở
Tình còn vững bền muôn thuở
Bao la như lòng đại dương...”
Rồi những lá thư tình muôn thuở vẫn là phương tiện đẹp nhất, dễ thương nhất để biểu tỏ tình yêu của người lính chiến cùng người em yêu nhỏ bé:
“Biết chăng, thư này tràn đầy mến thương
Lòng sao vấn vương mỗi khi gối trăng đầu súng
Những khi chiều buông nhớ nhung người thương
Chốn xa xôi ngàn trùng
Chỉ mong rằng em không buồn vì chia ly
Yên lòng người chiến sĩ những ngày biệt ly...”
Và cũng chính nhờ những lần đôi ta trao gởi nhau phong thư ngào ngạt hương yêu kia mà người em gái hậu phương cảm nhận được tâm tình sâu kín của chàng trai nơi chiến tuyến:
“Giữa chốn núi rừng bâng khuâng nghe kể chuyện vui tranh đấu
Ghi tên em vào vách đá ven đồi để nhớ thương nhau
Khi xưa em thường hay mơ hay mộng nhiều khi chiều xuống
Không biết bây giờ em có hay hờn
Và thường hay khóc những khi chiều buồn cô đơn?”
Người lính chiến đợi chờ gì nhiều nhất? Chắc cũng chỉ ngồi chờ thư của em thôi, chứ đâu còn gì hơn nữa mà mong, bởi vì mặc dù trong đêm dài chiến tuyến đã có tiếng nói Dạ Lan nhõng nhẻo bên tai như rót mật vào hồn nhưng đó cũng chỉ là tâm tình chung chung của bao người em gái hậu phương trao gởi đến tập thể các anh chiến sĩ nơi tiền tuyến, trong khi bức tình thư ngát hương của từng người yêu bé nhỏ viết cho từng chiến binh đa tình mới là đáp số cho duyên thề đôi lứa và cho ai đó có những niềm riêng:
“Từ bàn tay tiên, nắn nót từng nét gởi cho anh
Ðể anh vui bước đường quân hành...”
Vì thế, những khi Tết đến, Xuân về nơi tiền đồn heo hút trong nỗi nhớ nhà da diết, người lính chiến tay ghìm súng chờ giặc mà lòng luôn khắc khoải trông thư:
“Chờ em, một lá thư Xuân
Nhớ thương gom đầy
Cho chiến sĩ vui miền xa xôi...”
Người lính lúc nào cũng chấp nhận chia phôi trong tình yêu đôi lứa, coi ngăn cách là do định mệnh an bài, nhất là khi nước non đang gặp cảnh chinh chiến điêu linh:
Nam nhi “cổ lai chính chiến hề”
Nào ai ngại gì với gió sương?
Trong bối cảnh chung của Miền Nam Việt Nam với bao chàng trai thế hệ đứng lên đáp lời sông núi, lên đường tòng chinh để bảo vệ đất nước đang bị nạn Cộng Sản xâm lược:
“Người đi giúp núi sông
Hàng hàng, lớp lớp chưa về
Hàng hàng nối tiếp câu thề
Giành lấy quê hương...”
Dù yêu nhau tha thiết đến mấy, đôi bạn lòng cũng đành phải chấp nhận chia xa, nếu không nói là phải cố vui lên, dù trong cuộc tình ngăn cách:
“Tình mình cao hơn núi non kia hùng vĩ
Nên vẫn vui câu biệt ly!”
Rồi lỡ khi có ai hỏi rằng “sao lâu quá không thấy về thăm quê, thăm em,” người lính xa nhà không khỏi cảm thấy bối rối:
“Có người gặp tôi
Hỏi “Sao lâu rồi không về thăm quê miền Trung?”
Dù thương vẫn thương
Nhưng non nước chưa yên bình
Quê hương còn nghiêng ngả
Biết trả lời sao?”
Cho nên, lời trần tình với mẹ già của người chiến binh xa gia đình lúc Tết đến cũng chính là lời nhắn nhe gởi tới người vợ hiền hoặc người yêu của lính về chuyện anh lính chiến năm nay không thể về nhà để kịp đón mừng Xuân mới:
“Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
Khi thấy mai đào nở vàng bên nương
Năm trước con hẹn đầu Xuân sẽ về
Nay én bay đầy trước ngõ
Mà tin con vẫn xa ngàn xa...”
Nhưng mẹ yêu ơi –và em yêu ơi– hãy thấu cho lòng con –và lòng anh– vì ngoài tình yêu mẹ, yêu em, những người lính chiến gian khổ như con –và anh nữa– còn phải sống cho tình đồng đội “sống, chết có nhau,” như từng được nói lên qua ý nhạc “cùng chung đời lính thương nhau khác chi nhân tình” trong ca khúc “Huynh Ðệ Chi Binh” rất thịnh hành thời chinh chiến:
“Con biết không về mẹ, chờ, em trông
Nhưng nếu con về bạn bè thương mong
Bao lớp trai hùng chào Xuân chiến trường
Không lẽ riêng mình yên ấm?”
Cho nên:
Mẹ ơi! Con Xuân này vắng nhà...
Vậy thì, em yêu ơi, xin em hãy hiểu rằng chuyện hai phương trời cách biệt của đôi uyên ương giữa mùa ly loạn là chuyện cổ kim thường tình:
Làm người yêu lính chiến mấy ai tròn đôi...
Nhưng chàng trai lính chiến có biết người em gái hậu phương nghĩ gì về mình không? Lâu rồi, có lẽ từ dạo mới bắt đầu yêu nhau lận, em vẫn băn khoăn tự hỏi:
“Anh ơi, sương gió dãi dầu
Màn đêm chiến tuyến có buồn nhớ nhau?
Khi mưa giăng sầu vào đời
Tình người lính chiến nhớ nhau vì đâu?”
Tâm tình người em gái hậu phương, có lẽ anh yêu cũng biết đó, thì lúc nào cũng nồng nàn tha thiết:
“Rồi ngày nay
Tiễn anh trai hùng lên đường
Em ở phố phường
Ðợi người biên cương
Niềm vui sống nơi hậu phương
Là tình yêu hiến dâng sa trường
Ðẹp lòng người gió sương...”
Biết bao lần, em đã ngồi thức khuya lơ, khuya lắc giữa khung cảnh vắng lặng của đêm trường để viết thư cho anh yêu:
Gởi về anh một lá thư em viết bên đèn khuya
Thời gian len lén, đi mãi không ngừng, đêm tối mơ hồ...
Có khi, em còn ngồi đan áo cho anh nữa. Ðan lên những tấm khăn choàng và những chiếc áo ấm để gởi ra sa trường cho các anh chiến sĩ Cộng Hòa đang chịu cảnh lạnh lùng ngoài biên giới luôn là một việc làm vừa trìu mến vừa đầy ý nghĩa của biết bao người em gái hậu phương tại miền Nam Việt Nam trong thời chiến. Bộ anh không nhớ rằng một người bạn phi công chiến đấu của anh cũng đã từng “thắt lại khăn ấm chính em đan” lúc cất cánh lên đường hành quân đó sao?
“Thao thức đêm này không biết là bao
Ngơ ngác canh trường đếm mấy vì sao
Còn đây em ngồi đan áo
Áo em đan thành chiến bào
Ấp yêu trong nghìn khuya sầu...”
Và đây là tâm tình người yêu bé nhỏ nơi phố phường đợi chờ anh lính chiến chốn biên cương:
“Bạn lòng ơi, đêm nay sao lạnh quá
Anh biết không em chờ, mà anh vẫn chưa về
Ðể năm tháng ơ thờ
Ðêm này là bao đêm nhớ về anh?”
Nhưng, hỡi anh yêu, bao giờ thì chúng mình thành đôi? Bao giờ thì anh mới có ngày về bên em? Em nghĩ chắc chúng mình phải đợi chờ cho đến ngày hòa bình trở về trên quê hương quá:
“Hẹn em khi nước non yêu vui
Mùa Xuân ngày đó riêng đôi mình...”
Ngày đó chính là ngày tàn binh lửa, khi người lính chiến trở về:
“Ngày đó quay tàu anh tìm lối về
Mình đi giữa trời nhiều hoa lá bay
Chờ anh, em nhé!
Hẹn em ngày mai có người nhặt hoa sóng về
Kết thành vòng hoa mỹ miều
Trao làm hoa cưới cho ta đẹp đôi...
Và đến lúc đó thì hình ảnh đẹp nhất trong tình yêu đôi lứa chúng ta cũng như trong tình quân, dân cá nước chính là cảnh đoàn tụ trong ngày chinh chiến tàn:
“Anh sẽ là anh đàn em nhỏ
Là con của mẹ, giữ quê hương”
Phải chăng, những hình ảnh tươi đẹp, rạng rỡ đó của quê hương mình chỉ có thể có được khi đất nước đã sạch bóng quân Cộng Sản, khi nền tự do, dân chủ đã thực sự được “đắp xây cho muôn đời” qua những “nhịp cầu mến thương gieo muôn ngàn nơi” giữa mùa “Xuân thanh bình rộn ràng bao lòng trai”? (V.P.)
Lời tác giả: Bài này không thể nào được viết nên nếu không nhờ mượn những ý nhạc và lời ca đặc sắc, nồng nàn muôn thuở của các nhạc sĩ tài hoa tại miền Nam Việt Nam hồi trước 1975 với dòng nhạc tình mùa chinh chiến bất hủ từng chiếm ngự trái tim và tâm hồn của bao thế hệ thanh niên miền Nam tự do, kẻ mất, người còn, trong cuộc chiến tự vệ của Việt Nam Cộng Hòa chống lại cuộc xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt hồi hạ bán thế kỷ trước. Người viết bài này, nơi đây, xin chân thành cảm tạ và ghi nhận đóng góp của các nhạc sĩ có tác phẩm được trích dẫn trong bài viết: Lam Phương, Nguyễn Hữu Thiết, Trần Thiện Thanh, Anh Chương, Nguyễn Văn Ðông, Y Vân, Huỳnh Anh, Phạm Duy, Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Trúc Phương, Anh Thy, Phạm Ðình Chương, Duy Khánh, Trịnh Lâm Ngân, Minh Kỳ, Hoài Linh... qua các nhạc phẩm: “Người Tình Không Chân Dung,” “Chàng Là Ai,” “Người Yêu Của Lính,” “Màu Áo Hoa Rừng,” “Tình Quê Hương,” “Tình Thư Của Lính,” “Một Trăm Phần Trăm,” “Ðêm Dài Chiến Tuyến,” “Cánh Hoa Thời Loạn,” “Trả Lại Em Yêu,” “Thanh Niên Hành Khúc,” “Không Quân Việt Nam,” “Hàng Hàng Lớp Lớp,” “Ðôi Ngã Ðôi Ta,” “Chúng Mình Ðẹp Ðôi,” “Hái Hoa Rừng Cho Em,” “Vùng Biển Trời và Màu Áo Em,” “Cánh Thư Ướp Hoa Rừng,” “Tình Lính,” “Anh Về Với Em,” “Lính Nghĩ Gì,” “Ðồn Vắng Chiều Xuân,” “Anh Ði Chiến Dịch,” “Biết Trả Lời Sao?”, “Xuân Này Con Không Về,” “Lá Vàng Rơi,” “Tình Hậu Phương,” “Anh Tiền Tuyến, Em Hậu Phương,” “Huynh Ðệ Chi Binh,” “Gởi Về Anh,” “Nghìn Khuya,” “Về Ðây Anh”... Cũng xin thành thật cáo lỗi cùng các tác giả và độc giả khi, vì những thiếu sót trong việc sưu tầm, một số nhạc sĩ và nhạc phẩm được trích dẫn trong bài viết nhưng lại không được nhắc tới nơi đây. (V.P.)
* Saroyan Vann Phan