Wednesday, April 27, 2016

Bà quả phụ anh hùng 'Mũ Ðỏ tên Ðương' tìm về Ðồi 31 Hạ Lào

 Bà quả phụ Nguyễn Văn Ðương và con trai Nguyễn Viết Xa khấn vái vong linh của chồng và cha trên đỉnh đồi 31, Hạ Lào. 
(Hình: Việt Hùng/Người Việt)
Buổi trưa hôm ấy, anh Nguyễn Viết Xa cũng chay xe ôm, nhưng khác hẳn mọi hôm, hôm nay anh chở vị khách đặc biệt, là mẹ của mình, thẳng tiến phi trường Tân Sơn Nhất, bắt đầu cuộc hành trình đầy khó khăn để sang vùng đất nơi thân phụ mình nằm lại.
Máy bay vừa cất cánh, bà Mai quay sang chúng tôi nở nụ cười: “Ðây là lần đầu cô đi máy bay, nên cảm giác hơi run. Nhưng cứ nghĩ sắp được đến Hạ Lào là vui lắm.”
Ngồi bên cạnh bà Mai, anh Nguyễn Viết Xa cũng vậy. Khuôn mặt hiền lành, nhìn cái gì trên máy bay cũng đều lạ lẫm. Có lẽ suốt hàng chục năm qua, ước mơ một lần được ngồi máy bay của vợ con người anh hùng Mũ Ðỏ tên Ðương mới thành hiện thực.

Phi Trường Phú Bài

Tỉnh Quảng Trị có ranh giới với Hạ Lào, không có phi trường, chúng tôi mua vé bay ra phi trường Phú Bài của Huế, rồi từ đó bắt xe đi Quảng Trị, men theo đường tỉnh lộ 9 sang biên giới nước Lào qua cửa khẩu Lao Bảo.
Ðón chúng tôi ở phi trường Phú Bài là hai người quen mà phóng viên Người Việt đã liên lạc từ trước. Họ đều là người Việt Nam đang sinh sống và làm ăn ở Lào và nói được tiếng Lào sành sỏi. Khi nghe tin báo Người Việt đề cập đến việc đưa bà Mai sang vùng Hạ Lào, họ vui vẻ bỏ công việc và bắt xe để giúp đỡ cuộc hành trình mà chúng tôi đang hướng đến.

Ðường đến Hạ Lào
Từ Phú Bài, Huế, đến cửa khẩu Lao Bảo khoảng 200km, chiếc xe chúng tôi bắt đầu lăn bánh trên quốc lộ 1A, đi tới địa phận tỉnh Quảng Trị, qua con sông lịch sử Thạch Hãn khoảng 20km là có con đường số 9, bên tay trái. Rẽ vào đó và thẳng tiến khoảng 90km là đến cửa khẩu Lao Bảo.


Bà quả phụ Nguyễn Văn Ðương và con trai Nguyễn Viết Xa lần đầu tiên trong đời đi máy bay. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)
Trên đoạn đường số 9 này, đoàn chúng tôi ghé lại khu vực Khe Sanh, nơi chiến trường khốc liệt trong chiến dịch hành quân Lam Sơn 719, thắp nén nhang tưởng niệm các tử sĩ VNCH, cũng như các quân nhân Hoa Kỳ hy sinh ở khu vực đồi núi này.
Con đường 9 ngoằn ngoèo, băng qua những vùng đồi núi trập trùng đầy cây xanh. Ðến cửa khẩu Lao Bảo đã 5 giờ chiều, làm thủ tục xuất và nhập cảnh xong là trời tối đen như mực. Hạ Lào đón chúng tôi bằng một cơn mưa tầm tã.

Xe GMC U.S. Army trên sân Viện Bảo Tàng Chiến Tranh Lào
Hạ Lào là một vùng quê miền núi nghèo khó, nguồn thu nhập của người dân ở đây chủ yếu từ cây chuối. Tìm một khách sạn đầy đủ tiện nghị ở đây còn khó hơn lên trời. Chúng tôi tìm mãi mới ra được một khách sạn, hay nói đúng hơn là một nhà nghỉ ven đường, vì phòng chỉ có một chiếc quạt gọi là& tiện nghi. Ngoài ra không có vật dụng gì khác.

Bà Quả Phụ Nguyễn Văn Đương và con trai đang quỳ lạy trên đỉnh Đồi 31 
Thời tiết ở đây khắc nghiệt, ban đêm trời lạnh và ẩm ướt bởi sương mù. Nhưng ban ngày rất nóng bởi ánh nắng mặt trời và nguồn gió Lào khô khan.
Ðêm đó, nói chuyện với chủ khách sạn, chúng tôi biết được 2 ngày nữa là ngày Tết chính thức của người Lào. Người dân đang chuẩn bị đón tết, nên chợ búa, hàng quán không buôn bán gì. Bởi vậy việc tìm khách sạn đã khó, mà việc tìm thức ăn còn khó hơn.
Cuối cùng mọi người ăn món “xôi hấp thịt gà nướng,” món đặc trưng của người dân nơi đây. Bà Mai lại là người ăn chay trường, bởi vậy chỉ có thể ăn một ít xôi với phần lương khô chay, mà bà đã chuẩn bị sẵn mang theo.
Gian khó là vậy, nhưng khi được hỏi “cô có mệt không?” Bà trả lời: “Có gì đâu mà mệt, cứ nghĩ sáng mai được đến đồi 31 là hết mệt. Cảm xúc của cô bây giờ cứ vui buồn lẫn lộn. Vui vì sắp được chứng kiến nơi anh Ðương đã hy sinh. Nhưng buồn vì có lẽ khó mà tìm được xương cốt của ảnh.”


Hai mẹ con khi vừa bước qua cửa khẩu biên giới Việt-Lào. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)
Rồi bà tiếp tục cầm tràng hạt, miệng lẩm nhẩm tụng kinh. Tôi nhìn bà, nét khắc khổ hiền hòa của người phụ nữ miền Nam. Trong thời chiến, họ hy sinh ở nhà chăm sóc con cái cho chồng ra chiến trận. Thời bình, họ đứng trước cảnh mất chồng, các con thơ còn quá nhỏ. Thế nhưng họ không bỏ cuộc, tiếp tục cuộc mưu sinh, nuôi dạy con khôn lớn.

Ðồi 31, nơi người lính không về!

Sáng 13 Tháng Tư, đúng vào 30 Tết của người Lào, cả khu thị trấn Tchepone-Hạ Lào vắng hoe. Chúng tôi ghé một quán cà phê cóc ven đường, tình cờ gặp anh Kha, một người Việt đang làm ăn sinh sống ở đây.
Khi được hỏi về đồi 31 Hạ Lào, anh Kha cho biết: “Người dân ở đây gọi vùng đất này là Nam Lào, tôi chỉ biết là có một ngọn đồi, trước 1975 là nơi đóng quân của lính VNCH và lính Mỹ. Hiện nay họ đã làm một viện bảo tàng. Nhưng không biết đây là đồi 30 hay 31.”
Rồi anh chỉ đường cho chúng tôi. Ðó là một ngọn đồi rộng khoảng 10 hecta. Bên ngoài cổng có tấm biển ghi bằng tiếng Lào và tiếng Anh, tạm dịch sang tiếng Việt là “Bảo tàng di sản chiến tích chiến tranh Việt Nam-Lào trên đường 9.”
Viện Bảo Tàng Lào trên đường 9 Đồi 30 Nam Lào
Khung cảnh hoang vắng, không một bóng người. Nơi đây vẫn còn lưu giữ những chiếc trực thăng của Mỹ, Xe chở quân đội VNCH, súng ống đại bác... Tại đây chúng tôi gặp được anh Xê Phảnh, người Lào, là người bảo vệ ở khu vực này.

Viện Bảo Tàng Lào trên đồi 30 

Khi được hỏi về đồi 31, anh cho biết: “Ở đây là khu vực đồi 30, khu vực của quân đội Mỹ và VNCH đóng quân trước đây, thuộc huyện Sepone, tỉnh Savannakhet. Còn đồi 31 cách đây khoảng 7km, cũng sát bên đường 9, nó thuộc bản Skiphine.”



Ngôi miếu thờ trên đỉnh đồi 31. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

“Hiện nay bên đồi 31 chỉ có một cái miếu thờ, người ta đã xây hàng rào bao xung quanh, phải có chìa khóa mới vào bên trong được.” Anh Xê Phảnh vừa nói, vừa chỉ tay sang khu vực vùng đồi 31.

Sau khi nghe chúng tôi trình bày về mục đích đi đến đây, anh Xê Phảnh ngạc nhiên: “Tôi làm việc ở đây đã hơn 15 năm, nhưng đây là lần đầu tiên tôi thấy một phái đoàn thuộc lính VNCH ngày xưa sang đây thắp hương.”

Đường vào Đồi 31

“Các cựu chiến binh miền Bắc Việt Nam hàng năm vẫn đến đây viếng thăm, nhưng phía VNCH thì không thấy ai? Có lẽ quí vị là người đầu tiên thuộc lính VNCH tìm đến đây để viếng?”
Anh Xê Phảnh cho biết thêm: “Ðồi 31 chủ yếu là lính miền Bắc Việt Nam, chết rất nhiều. Vì Mỹ cho B52 rải thảm ở khu vực đó. Bởi vậy bên đó người ta xây đền thờ lính miền Bắc với dòng chữ ‘Tổ quốc ghi công’. Còn lính miền Nam cũng có chết ở đó, nhưng rất ít.”
Khi chúng tôi đề cập đến việc dẫn phái đoàn qua thăm đồi 31, anh Xê Phảnh tỏ ra lo ngại: “Thật tình mà nói, nếu sếp tôi có ở đây thì các bạn khó mà tự do đến đó (chính quyền đang quản lý khu đồi 31 hiện nay là Ðảng nhân dân cách mạng Lào, rất thân với Ðảng CSVN). Nhưng nay là dịp Tết của người Lào, nên ông ta đã về Viêng Chăn ăn tết cùng gia đình.”
Nghe xong, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm vì nếu đi qua Lào vào ngày khác, có lẽ khó mà vào được đồi 31.


Bà Mai đã lấy nắm đất trên đồi 31, nơi Ðại Úy Ðương hy sinh để mang về Việt Nam. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Anh Xê Phảnh đưa chúng tôi sang đồi 31. Từ đồi 30, men theo đường 9, hướng về cửa khẩu Lao Bảo-Việt Nam khoảng 7km, sẽ bắt gặp một ngọn miếu thờ bên phía tay trái nằm trên một ngọn đồi hiu quạnh.

Ðồi 31 nằm sát ngay đường 9, khu đất này cao hơn mặt đường khoảng 10m. Tấm bảng bên ngoài bức tường rào, ngay cổng lối đi vào khu đền thờ, ghi bằng cả chữ Lào và Việt Nam với lời lẽ đầy phân biệt đối với chính quyền VNCH.

'Mong anh hãy theo mẹ con em về Việt Nam'


Ðúng 11 giờ trưa, chúng tôi đến khu vực đồi 31. Ngọn đồi hoang vu giá lạnh. Ðất đai khô cằn, nền đất đỏ với nhiều hạt đá nhỏ trộn lẫn vào nhau. Chỉ có giống cỏ voi là còn mọc được nơi đây, ngoài ra không thấy cây cối nào khác.

Cầm tấm hình cố Ðại Úy Ðương trên tay, bà Trần Thị Mai bước xuống xe như ứa nước mắt, nhìn xa xăm và nói: “Cô cảm thấy lạnh quá cháu à. Cô cảm nhận được anh Ðương đang ở rất gần đây.” Rồi cô ôm bó nhang, cùng bịch trái cây đã chuẩn bị sẵn mang theo bên mình, đi đến khu vực có miếu thờ.

Nắm đất trên đỉnh đồi 31
Chưa đi tới cổng vào, tự nhiên một trái táo trong món đồ cúng mang theo rơi xuống đất. Bà Mai giật mình đứng lại, hai tay chắp lại, quì xuống vái lạy và miệng lẩm nhẩm: “Anh Ðương ơi, có phải anh muốn báo nơi anh mất chính là ở đây?” Rồi bà òa khóc nức nở.
Thấy thế, anh Nguyễn Viết Xa cũng chạy đến bên mẹ, và hỏi: “Hay là mình cúng ở đây đi mẹ à.” “Ừ, đúng rồi, mình làm lễ thắp hương ở đây đi con. Mẹ cảm nhận cha con đã hi sinh ở nơi này.” Bà Mai trả lời.
Rồi bà thắp nhang, bày vật dụng đã mang sẵn theo ra để làm nghi thức cúng viếng. Trong tiếng gió rít trên đồi, tiếng bà thì thầm với người chồng nằm lại mảnh đất này: “Anh Ðương ơi, hôm nay em dẫn con trai của anh đến đây thắp nhang và rước vong hồn của anh về lại Việt Nam. Ðây là lần đầu tiên em đến được nơi này.”
“Nếu anh có linh thiêng thì hãy theo mẹ con em về Việt Nam, chứ ở đây lạnh lẽo lắm anh à. Em sẽ thỉnh một nắm đất nơi đây, đem về Việt Nam để nơi Chùa, mong hương hồn anh hãy theo em về, để mẹ con em còn được thắp hương cúng thờ cho anh.”
Bà Mai vừa nói, vừa bốc nắm đất bỏ vào cái khăn vải đỏ gói lại để mang về Việt Nam.


Bàn thờ tạm trong ngôi miếu trên đồi 31, nơi bà Mai cúng vái vong linh của chồng cùng các tử sĩ của cả 2 bên.

Còn anh Nguyễn Viết Xa nói với cha: “Ba ơi, 45 năm rồi từ ngày ba ra đi đến hôm nay con và mẹ mới được đến nơi đây. Ngọn đồi 31 này con cũng nghe nhiều, nhưng hôm nay mới được chứng kiến. Con và mẹ đã rất muốn đến đây sớm hơn, nhưng điều kiện không cho phép. May mà có quí vị ân nhân ở hải ngoại giúp đỡ, nay mẹ và con mới đến được nơi này.”

“Khi ba mất con còn quá nhỏ. Bởi vậy con không nhớ gì về thời gian ba còn sống bên con. Chỉ nghe mẹ nói trong 4 anh chị em, ba thương con nhất. Con mong ba hãy an nghỉ, bởi còn có rất nhiều người quí mến ba. Họ đã giúp đỡ con và mẹ rất nhiều trong thời gian qua.”
Trong khi ấy, bà Mai sụt sịt khóc: “Mong anh hãy tha lỗi cho em, vì em chưa làm tròn bổn phận của người vợ. Tâm nguyện của anh, em cũng không hoàn thành. Vì đời sống quá khó khăn, bốn đứa con không đứa nào được ăn học đàng hoàng. Hai đứa cũng đã mất rồi anh à...”

Giấy Vàng Bạc trên đỉnh đồi 31
Rồi bà cầm xấp giấy tiền hàng mã, rải đều trên đất. Mảnh đồi hoang vu, cùng với cơn gió Lào thổi mạnh, khiến cho từng tờ giấy bay xa. Khuôn mặt bà nhìn xa xăm theo làn gió theo những tờ vàng mã bay xa. Một mắt bà đã mù hẳn, con mắt còn lại cũng yếu mờ, nhưng bà vẫn cố nhìn ra xa, xa mãi nơi ngọn đồi 31 huyền thoại, nơi rất nhiều người lính vẫn nằm lại nơi đây không trở về.
Sau nghi thức cúng vái, bà Mai đi thắp nhang khắp nơi, xung quanh ngọn đồi 31. Bà đi mà không biết mệt giữa cái nắng chói chang và từng cơn gió Lào nóng khô khốc, hất vào mặt, từng cơn, từng cơn...
“Cô phải thắp càng nhiều càng tốt, không những cho anh Ðương mà còn các đồng đội của anh nữa con à. Họ cũng lạnh lẽo lắm, bao năm qua không ai nhang khói hết!”
Sau đó, bà cầm di ảnh và “nắm đất” của cố Ðại Úy Ðương, tiến thẳng vào ngôi miếu thờ. Tại đây bà bày mâm cơm để cúng các vong linh đã bỏ mình nơi đây, trong đó có cả lính bộ đội Bắc Việt.
Bà Mai thắp hương, vái lạy, miệng cầu: “Xin chào các người lính đã hy sinh nơi đây, hôm nay tôi đến đây để thắp nén nhang kính viếng đến các anh. Tôi là vợ của người lính VNCH, nhưng tôi cũng cầu chúc cho các vong linh của người lính Bắc Việt. Chiến tranh đã đi qua, mong các anh hãy tha thứ cho nhau.”



Hai mẹ con bà Mai thắp nhang khắp khu đồi 31. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)
“Tuy khác chiến tuyến, nhưng các anh đều đã hy sinh ở cùng một nơi này. Âu cũng là số phận. Bởi vậy ở thế giới bên kia, mong các anh hãy là những người bạn tốt của nhau, chứ đừng cầm súng mà chĩa vào nhau nữa. Tất cả chúng ta đều là người Việt Nam cơ mà.” Bà Mai gửi lời đến các vong linh.

Mong vợ chồng được ở mãi bên nhau

Sau nghi thức cúng viếng ở đồi 31, mọi người bắt đầu ra về. Bà Mai vui hẳn: “Cô vui vì cô tin là anh Ðương sẽ theo cô về Việt Nam.”
Khi được hỏi, lúc còn sống kỷ niệm nào về Ðại Úy Ðương khiến bà nhớ nhất, bà cho hay: “Tính anh Ðương hay ‘nổ’ (nói dóc) lắm con à. Cô nhớ trước khi đi chiến dịch Lam Sơn, anh Ðương có nói là đợt này đi xong chiến dịch là anh sẽ lên lon thiếu tá.”
“Hồi đó cô nghe chỉ cho vui, cứ nghĩ ổng lại ‘nổ’ nữa rồi. Ai ngờ ổng lên thiếu tá thật. Nhưng có điều sau khi mất mới được vinh thăng. Có lẽ đây là lời ‘nổ’ chính xác nhất của anh Ðương.”
Những mẩu chuyện vừa vui vừa buồn theo suốt chiều dài cuộc hành trình từ Hạ Lào về lại Huế. Chúng tôi lưu trú lại thành phố Huế một đêm.
Ðêm duy nhất ở Cố Ðô, chúng tôi lại có một kỷ niệm đẹp khi mọi người cùng đi ăn tối. Chúng tôi bất ngờ được anh Lê Quýnh, một người gốc Huế, nhận ra bà Mai và chủ động tới bắt chuyện.
“Tôi biết được câu chuyện của cô khi vô tình đọc được bài viết trên báo Người Việt Online. Không ngờ được gặp cô nơi đây. Bản thân tôi rất yêu thích bản nhạc ‘Anh Không Chết Ðâu Anh’ và quí mến, nể trọng Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương.” Rồi anh lấy Guitar, tự đàn hát ca khúc “Anh Không Chết Ðâu Anh” để tặng mọi người.

 Tụng kinh cầu siêu cho cố Đại Úy Nguyễn Văn Đương
Sáng hôm sau, chúng tôi trở về lại Sài Gòn và đi thẳng đến một ngôi Chùa mà bà Mai đã đặt trước am thờ và nhờ thầy tụng kinh niệm Phật.
“Sau này cô mất, cô mong muốn được thiêu và mang tro cốt đặt bên cạnh Ðại Úy Ðương nơi đây. Ðể con cháu có thể dễ dàng đến thắp nhang cúng viếng. Và cũng để vợ chồng cô mãi mãi được bên nhau,” bà Mai tâm sự.
Việt Hùng / Người Việt 
Video

Tuesday, April 26, 2016

Chuyện 30-4: Vợ Chồng Điệp Viên

 
Học xong trung học, tôi thi vào Đại Học Sư Phạm ban Anh Văn. Trong thời gian là sinh viên tôi còn làm việc cho số 3 Bạch Đằng. Đó là cách nói gọn của phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa.
Tôi làm tình báo vì có máu phiêu lưu, thích chuyện mạo hiểm, sau nầy lại thêm mối thù việt cộng giết cha tôi. Ông già tôi là chủ một nhà máy xay lúa nhỏ ở vùng quê tỉnh Bạc Liêu. Vì là vùng mất an ninh nên phải đóng thuế cho việt cộng, ấy vậy mà cũng bị chúng nửa khuya đến gõ cửa đem ra đồng bắn bỏ. Cả mấy năm sau, tôi cố tâm điều tra mới biết rõ thủ phạm là một tên nằm vùng trong xóm, chỉ vì một xích mích nhỏ, hắn dẫn đồng bọn về giết người. Dĩ nhiên tôi trả thù. 
Sau khi tốt nghiệp sư phạm, trong lúc chờ sự vụ lệnh, tôi lẻn về nhà trốn trong phòng không cho hàng xóm biết, đến khuya tôi đến nhà hắn, nằm sau hè chờ. Ở thôn quê không có phòng vệ sinh trong nhà, khi cần thì ra sau vườn. Qua đêm thứ hai hắn mở cửa ra đi tiểu, tôi chĩa súng vào lưng hắn.
- Đồng chí ra ngoài kia trả lời trước tổ chức về vài việc cần gấp.
Hắn sinh nghi định phản ứng, tôi giáng cho một bá súng vào đầu, hắn bất tỉnh, tôi cột chân tay hắn, cõng trên lưng, ì ạch băng đồng ra chỗ bọn chúng giết cha tôi. Tôi khai thác tận tình cho đến khi hắn thú nhận tội giết cha tôi, lúc đó tôi mới cho hắn biết sự thật. Hắn van lạy, nhưng vô ích, hình ảnh cha tôi chết oan ức, mắt vẫn mở trừng trừng khiến tôi sôi gan. Sau đó gia đình tôi bán nhà máy xay lúa, bán nhà lên Sài Gòn ở. Tốt nghiệp xong tôi được điều đi các tỉnh dạy học. Sau mỗi công tác tình báo dù thành công hay thất bại tôi lại chuyển qua tỉnh khác.
Câu chuyện bắt đâu khi tôi được giao cho việc theo dõi một cô thợ may ở ngoại ô một thành phố ven biển miền trung. Nguyên nhân là thỉnh thoảng lại có truyền đơn rải vào buổi sáng trên con đường vào thị xã. Đây là con đường mà đa số nông dân thường đem nông sản vào chợ bán. Họ chở bằng xe đạp, xe lăm hay xe bò. Sáng sớm nào cũng có cảnh sát rình ở đó nhưng chẳng thấy ai đáng tình nghi cả. Sau phải cho người nằm sát lề đường mới khám phá ra một cô gái đi xe đạp chở rau muống phía sau, dưới chân chỗ bàn đạp để mớ truyền đơn, cứ dỡ nhẹ chân là truyền đơn rơi xuống đường khó mà thấy được nhất là ở quãng đường tối. 
Qua điều tra đây là cô thợ may nhà ở vùng ngoại ô, sát địa giới thành phố. Sau nhà là một vạt ruộng nhỏ trồng rau muống, mỗi sáng cô chở rau vào chợ bán sỉ cho bạn hàng rồi về ngay. Cô sống với một mẹ già hơn sáu mươi tuổi. Gọi là tiệm chứ thực sự là một bàn máy may phía trước, cách một tấm vách cót là giường ngủ của hai mẹ con vừa làm chỗ thử áo quần. Gia đình nầy mới từ một quận miền núi về hơn một năm nay. Theo báo cáo, trước đó cô là nữ sinh trung học, sau theo nghề may. Tiệm của cô khá đông khách vì cô hiền lành, vui vẻ lại lấy công rất rẻ, có lẽ đây là trạm giao liên hơn là cơ sở kinh tài của địch.
Nhiệm vụ của tôi là tìm cách tiếp cận cô để theo dõi. Tôi sẽ đóng vai một kẻ si tình cô, gặp gỡ cô mà bọn chúng không thể nghi ngờ, hoặc tốt hơn nữa sẽ được móc nối làm việc cho chúng. Một buổi sáng chủ nhật tôi chạy xe gắn máy gần đến nhà cô thì xe chết máy phải dừng lại sửa. Tôi vào tiệm xin cô miếng giẻ rồi loay hoay mở máy ra chùi, thay bu gi, tháo bình xăng con... toát mồ hôi mà xe vẫn không nổ. Tôi xin cô miếng nước uống và ngồi trước hiên nhà cô hỏi vài câu vơ vẩn rồi dẫn xe về. 
Qua hôm sau tôi đem một xấp vải đến nhờ cô may cho một áo sơ mi. Lần nầy tôi được cô mời vào nhà vì tôi là khách. Thế rồi, thỉnh thoảng tôi lại nhờ cô may một thứ gì đó và tôi ngập ngừng nói là tôi làm thế để được dịp gặp cô, không gặp tôi nhớ. Cô có vẻ bất ngờ, nhưng yên lặng. Những lần sau cô lại càng giữ ý, nhưng tôi bắt gặp trên đôi mắt cô mỗi khi thấy tôi, long lanh niềm vui. Trong lúc trò chuyện tôi cho cô biết về gia đình tôi rằng ông già tôi tham gia mặt trận bị quân đội Quốc Gia hành quân bắn chết. Thỉnh thoảng tôi đi chùa nghe thuyết pháp hoặc tham gia mít ting, tôi phát ngôn bừa bãi ra người bất mãn chế độ. Sau một thời gian lạnh lùng, giữ kẽ, cô có vẻ thân thiện, vui vẻ hơn. Kẻ thù trong bóng tối đang kéo dần con mồi về phía chúng, tôi biết mình đã được để ý, nhưng chỉ đến đấy thì hầu như bế tắc, tôi không biết được những gì chúng tôi cần.
Một sáng chủ nhật, như thường lệ tôi đến thăm cô, nhưng đến nơi chỉ thấy một đống tro tàn đang bốc khói. Thì ra, không hiểu vì sao lúc khuya lửa bắt cháy, hai mẹ con chỉ kịp chạy thoát thân. Tôi khuyên nhủ nhưng cô vẫn lắc đầu lo lắng.
- Tiền mua bàn máy may, mua miếng đất em trả chưa hết nợ, còn quần áo của khách nữa, họ nói bao nhiêu phải cố mà trả. Nhưng em còn đồng nào đâu!
Tôi hứa với cô là sẽ hết lòng tìm cách giúp đỡ. Thế rồi tôi về bán chiếc xe gắn máy. Nhờ bà con chung quanh phụ giúp nhặt nhạnh những miếng tôle còn xài được, mua ít vật liệu, dựng lại căn nhà mới cũng khang trang, ngoài ra còn mua được một bàn máy may mới nữa. Chỉ trong một tuần tôi lo toan cho cô chu toàn. Từ đấy thái đọâ của cô đối với tôi thay đổi hẳn. Chúng tôi thường đưa nhau đi xem hát, ăn quà rong, đôi khi cô đến nhà trọ thăm tôi nữa. Mỗi khi đi với nhau cô thường chải chuốt, thoa chút phấn hồng trên má, trông cô đẹp hẳn ra, như lột xác từ một cô thợ may lọ lem thành một nàng tiên, nhưng đối với tôi, đi bên cô, nhất là những chỗ vắng, tôi có cảm giác rờn rợn, tưởng như mình đang đứng trước đỉnh đầu ruồi của một họng súng nào đó trong bóng tối. Vì nghề nghiệp, lúc nào tôi cũng cảnh giác, ngụy trang, dọ dẫm tìm một chỗ an toàn phía sau lưng.
Một lần cô ghé nhà trọ thăm tôi
, có một bà hàng xóm biết cô là thợ may đến năn nỉ cho con gái học nghề may. Cô là học sinh thi hỏng tú tài, muốn theo nghề may để phụ giúp gia đình. Nghe tôi nói thêm vào cô ta có vẻ bằng lòng nhưng hẹn ít hôm nữa mới trả lời, có lẽ chờ quyết định của tên đầu sỏ, chỉ huy cô. Tuần sau cô đồng ý nhận học trò. Được độ ba tháng nhờ sáng ý, cô bé học nghề khá tiến bộ. Tiệm may cũng đông khách hơn trước. 
Một hôm tôi gọi riêng cô bé hàng xóm qua nói chuyện.
- Em học nghềø may với chị Lan đến đâu rồi?
- Em cắt chưa vững nhưng may thì khá lắm, khách nào cũng khen đường chỉ em thẳng, mịn và đẹp.
- Có lẽ cần một máy may nữa mới phụ chị Lan kịp giao hàng cho khách.
- Em cũng nghĩ vậy nhưng không có tiền.
Tôi tâm sự với cô học trò.
- Như em biết, thầy và chị Lan yêu nhau, dự định sẽ làm đám cưới, nhưng thầy còn ngại hình như chị Lan đang yêu ai nên thầy nhờ em giúp thầy tìm hiểu chị Lan xem có ai đến thân mật chuyện trò với chị ấy không? Em sẽ chẳng làm gì cho chị ấy nghi ngờ. Thầy có cái máy nầy, sẽ giấu dưới xách tay của em, khi đến nơi, em chỉ cần mắc xách tay sau lưng chỗ ngồi của em sát vách với phòng thử áo quần. Chỉ thế thôi, đừng cho bất cứ ai biết chuyện nầy. Nếu chị Lan hay ai bắt gặp cứ bảo rằng đó là máy thu thanh, thầy sẽ chỉ em cách mở nghe đài phát thanh. Em cũng đừng cho chị ấy biết là thầy cho em mượn tiền mua máy may, sợ chị nghi ngờ, ghen tuông phiền phức.
Thế là chúng tôi nghe rõ những trao đổi, bàn bạc với nhau của bọn chúng trong phòng thử quần áo. Một bộ phận khác rình thu hình những khách hàng khả nghi và tiến hành điều tra. Chúng tôi gần như nắm vững tất cả những tên nằm vùng, cơ sở kinh tài, nơi chứa chấp những tên xâm nhập nữa, nhưng tên đầu sỏ vẫn chưa tìm ra!?
Trong nghề nầy, một chút sơ ý là chết. Như cô thợ may, bị chúng tôi theo dõi mà không hay biết. Cô với tôi như hai tay  nhu đạo đang lừa nhau để vật đối thủ xuống, cô đã bị thất thế hoàn toàn, nhưng tôi chưa ra tay và chờ cô ra đòn. Có thể cô làm bộ chuyện trò, hỏi han để tìm hiểu tôi hoặc rủ tôi một chiều nào đó ra vùng quê hóng gió tâm sự... Nhưng tuyệt nhiên chuyện đó không xảy ra. Cô lúc nào cũng ít nói, dịu dàng, nhưng như thế lại càng làm tôi e ngại và thấy cô rất bản lĩnh, rất nguy hiểm. Đi bên cô tôi cố làm vẻ sung sướng, hạnh phúc nhưng thật sự tôi có cảm tưởng cô như con rắn độc, chỉ một tích tắc cô hành động là đời tôi tàn ngay. Mạng tôi đổi mạng cô thì không xứng. Thế nên tôi chẳng hứng thú gì trong vai trò nầy cả. Tôi được lịnh phải tiến xa hơn tức là phải chung đụng xác thịt để giữ chặt con mồi, nhưng tôi không làm được. Dù cô có yêu tôi thực hay giả vờ tôi cũng quyết không đụng chạm đến nơi thiêng liêng đó của người con gái. Đó là yếu điểm của một tên tình báo non tay nghề như tôi.
Mùa hè năm đó, đối phương lên phương án tấn công tỉnh. Mẻ lưới được tung ra. Chúng tôi dự định hành quân vào lúc khuya. Buổi chiều cô bé học may về báo cho tôi biết là lúc trưa có một ông sư khất thực đến trước nhà, cô Lan ra cúng dường, ông sư lầm thầm tụng kinh chúc phúc như mọi khi, nhưng lúc quay vào, thấy mặt cô tái mét, người cứ run lên bần bật...Chúng tôi đề nghị cảnh sát hành quân sớm hơn dự định. Thế là cả bọn bị tóm, kể cả chính tôi cũng bị cảnh sát đến gõ cửa, còng tay, đẩy lên xe cây.
Thường thì sau khi vở kịch đã hạ màn như thế, tôi thảnh thơi nghỉ ngơi rồi nhận công tác mới. Nhưng không hiểu sao hình ảnh cô ta vẫn nguyên vẹn trong đầu tôi. Khi cô bị bắt, bị giam giữ, lòng trắc ẩn của tôi lại nổi lên. Đàn bà, con gái, trẻ con không có chỗ trong chiến tranh, họ phải được ở hậu phương, phải được thường xuyên che chở, bảo vệ. Một cô gái vô ý vấp ngã thấy đã động lòng rồi, huống gì cô thợ may hiền lành, dịu dàng kia đang bị nhốt trong nhà giam sau những song sắt như một con thú đã bị săn bắt, chờ ngày bị đem xẻ thịt. 
Tôi đã nhiều lần bí mật nhìn cô ủ rũ ngồi ở một góc phòng giam, héo úa như không có linh hồn, không còn cảm giác, suy nghĩ gì. Tương lai là chết rũ trong tù, tình yêu, hy vọng của tuổi thanh xuân coi như đã chấm hết. Đối với cô, tôi thấy thật bất nhẫn, lừa gạt một cô gái dù cô ta được điều khiển từ trong bóng tối. Và khi cảm tưởng cô không còn là kẻ thù của tôi nữa, sự cảnh giác đã được gạt bỏ, như bụi bặm trên một bức tranh đã được chùi sạch, để lộ ra hình ảnh trong sáng, dịu dàng của cô trong tâm trí tôi. Thế nên tôi đề nghị thả cô ra để cho những con mồi khác đến móc nối lại với cô. 
Từ phòng giam, tôi lại được gọi lên để đối chất về sự liên hệ giữa tôi và cô. Chúng tôi xác nhận có yêu nhau nhưng  chẳng biết gì về việt cộng cả và anh cảnh sát thẩm vấn (vờ) tin ngay là thật, anh hứa sẽ thả chúng tôi ra và anh bỏ đi làm giấy tờ. Tôi đến ngồi gần cô cầm lấy tay cô, cô ngước nhìn tôi và lắc đầu, có lẽ cô cho rằng lời anh thẩm vấn viên chỉ là cái bẫy, nhưng tôi cố tình cho cô hiểu tôi là người có thẩm quyền, tôi cứu cô ra vì tôi yêu cô.
- Như em đã nghe lúc nãy, anh xin bảo lãnh em và chịu trách nhiệm liên đới về những hành động của em sau nầy. Nếu em thương yêu anh thực lòng thì em hãy lánh xa những gì có thể gây nguy hiểm cho em. Em còn mẹ già phải nuôi dưỡng, rồi em sẽ lập gia đình, có con cái, sống hạnh phúc như bao người bình thường khác. Đừng dại dột nữa, không phải anh sợ bị vạ lây nhưng nếu em gặp chuyện không may anh sẽ đau khổ lắm. Anh sẽ thu xếp cho em và mẹ em vào Sài Gòn sống lẫn trong đồng bào thì sẽ không có ai quấy rầy em nữa. Chúng mình sẽ làm đám hỏi và khi nào anh vận động xin về dạy gần Sài Gòn sẽ làm đám cưới.
Cô cúi đầu yên lặng nghe, rồi cô nắm tay tôi đặt lên đùi cô, siết nhẹ. Một giọt nước mắt rơi trên tay tôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Cô đã hiểu ý tôi. Cô viết cho mẹ cô một lá thư, dặn bán nhà để chuẩn bị về quê, chỉ giữ lại bàn máy may. 
Sau đó chúng tôi lặng lẽ về Sài Gòn. 
Nhờ bạn bè giúp đỡ, tôi tìm mua được một căn nhà nhỏ ở chợ Cây Quéo, góc đường Hoàng Hoa Thám, Ngô Tùng Châu Gia Định. Dĩ nhiên việc theo dõi cô không phải đã chấm dứt.
Công tác của chúng tôi thường được tình báo Mỹ yểm trợ. Người Mỹ rất hào phóng nhưng cũng rất nguyên tắc, họ đã vui vẻ trả lại tiền cho tôi mua lại chiếc xe gắn máy, trả cả những chi phí lặt vặt như đưa cô đi xem hát, ăn quà rong. Nhưng sau cuộc hành quân, hồ sơ coi như đã đóng. Lần nầy tôi lại bán xe, vay mượn thêm để lo cho cô mà không biết khi nào mới có tiền mua lại xe khác.
Suốt mấy tháng hè, tôi về Sài Gòn với  gia đình. Buổi chiều tôi thường ghé thăm cô, có khi tôi ăn cơm tối với gia đình cô. Sau bữa ăn, bà mẹ dọn dẹp chén đĩa, còn cô thì xin phép đi tắm. Chợ Cây Quéo nằm trong một đường hẻm, sau khi tan chợ chiều, trở thành vắng lặng như ở một vùng quê. Sau nhà cô có một sân vuông nhỏ, rào kín chung quanh, tôi thích ra đấy ngồi xuống một ghế gỗ dài để chờ cô. Cô có thói quen là sau khi tắm cô không mặc nịt ngực, nên qua lần vải mỏng, đồi ngực cô thẳng đứng lên, lồ lộ như hai mụt măng tre vừa chồi lên khỏi mặt đất. Cô ngồi cạnh tôi, nghiêng đầu dùng khăn vò mái tóc cho khô, chải nhẹ cho tóc thẳng, xong cô ngửa người vuốt mái tóc về sau lưng, rồi cô nhìn tôi mỉm cười. Tôi yên lặng ngắm cô, tưởng như thấy rõ làn da mịn màng, thơm tho của thân thể cô... Sau đó chúng tôi có một thứ quà rong như chè hay trái cây để vừa ăn vừa chuyện trò đến khuya mới chia tay.
Sau kỳ nghỉ hè tôi được chuyển ra Huế dạy học, tôi viết cho cô một lá thư dài và hẹn Tết sẽ về xin làm đám hỏi. Tính cô ít nói, ngay cả thư trả lời chỉ vỏn vẹn mấy câu "Được thư anh, em khóc mấy hôm nay vì vui mừng. Cám ơn anh đã hiểu em và lời hứa của anh lần nầy em tin là thật, bằng trái tim và cả cuộc đời em" 
Khoảng cuối năm đó tôi xin phép về Sài Gòn, khi đến nhà cô tôi ngạc nhiên thấy nhà đã sửa sang lại tươm tất. Cô dẫn tôi ra phía sau khoe một căn phòng vừa mới được xây thêm.
- Mẹ ngủ phòng ngoài kia, em ngủ trong nầy.
- Còn anh thì nằm dưới đất?!
Cô đỏ mặt nhưng sung sướng.
- Anh với em phòng nầy chứ.
Lễ hỏi chúng tôi diễn ra đơn giản, kín đáo. Gia đình tôi cứ tưởng tôi sẽ lập gia đình với một cô nữ sinh nào đó, không ngờ là một cô thợ may. Chẳng phải họ kỳ thị hay giai cấp gì mà theo lệ thường, thầy giáo rất dễ chọn vợ đẹp trong trường mình dạy. Nhưng khi gặp lần đầu, mọi người đều thích cô ngay. Cô vừa hiền vừa đẹp một cách thùy mị. Mẹ tôi cứ mẹ mẹ con con với cô ngọt xớt, các cô em gái tôi thì tíu tít hỏi han, trò chuyện rất thân mật khiến cô bối rối, vụng về vì cảm động. Từ đó gần như ngày nào tôi cũng đến nhà cô, đôi khi ngủ lại nữa, nhưng chúng tôi đã hứa với nhau phải giữ gìn, để dành cho ngày hôn lễ. Cô có những suy nghĩ lẩm cẩm rất đàn bà. Cô thêu những áo gối có hình quả tim, tên tôi và tên cô lồng vào nhau, hình đôi chim đang bay, rồi cô phân vân về tên của những đứa con trong tương lai. Tôi chế giễu thì cô giận, nhưng thâm tâm cô rất vui sướng với giấc mơ đơn giản đó. 
Tôi bàn với cô vài tháng nữa sẽ làm đám cưới, nhưng rồi đầu năm bảy lăm miền Nam bắt đầu sụp đổ từng mảng, tất cả tan rã như bọt nước. Người ta ùn ùn chạy về phía Nam, tôi phải nấn ná lo tiêu hủy hồ sơ, phân tán mạng lưới nên vào đến Đà Nẳng lại đành quay về Huế vì miền Trung đã rơi vào tay đối phương rồi. Kẻ thù hình như chưa biết gì về tôi cả ngoài cái vỏ bọc thầy giáo trung học. Chúng bắt đầu gọi các cô thầy  đến khai lý lịch và như đang sắp xếp mở cửa các trường học.
Thế rồi khoảng cuối tháng năm, năm bảy lăm, nửa khuya, chúng đến vây nhà trọ, gõ cửa, còng tay tôi dẫn ra xe. Thoạt nhìn, ngoài chiếc xe cảnh sát chở đầy bộ đội tôi còn thấy một xe mang số ẩn tế Sài Gòn, tôi biết  ngay bọn chúng đã tìm ra chính xác tông tích tôi. Nhưng tại sao trung ương lại không hủy hồ sơ?
Ngồi kèm tôi là hai tên bộ đội còn trẻ mang súng AK.  Phía trước, bên cạnh tài xế là một người đàn bà. Xe chạy ra khỏi cửa Thượng Tứ, qua cầu Trường Tiền đến đường Duy Tân, chiếc xe chạy trước quẹo vào ty cảnh sát (cũ), còn xe chở tôi chạy thẳng, hướng về quốc lộ. Tôi đoán chúng đưa tôi về Sài Gòn khai thác. Tôi dự định thoát thân, nhưng đến gần phía Nam tôi mới hành động. Nghĩ thế nên tôi buông thả, thiu thiu ngủ dưỡng sức. 
Dọc đường xe phải ngừng ở các nút chặn, tên tài xế cũng là bộ đội trình giấy và nói gì đấy, ánh đèn loang loáng vào xe, rồi xe lại tiếp tục. Đến Quảng Ngãi trời đã rạng sáng, tôi lơ mơ mở mắt nhìn quanh. Bỗng tôi lạnh người khi nhận ra người đàn bà ngồi phía trước là cô thợ may, vợ sắp cưới của tôi. Hóa ra chúng tôi đã lầm trong điệp vụ vừa kể, tên đầu sỏ là cô ta chứ không phải gã thầy tu khất thực. Tôi cay đắng cười thầm mình thua trí một người đàn bà, cô đã ngụy trang một cách tài tình, không chỉ đánh lừa chúng tôi mà còn đánh lừa cả đến lũ chân tay của cô. 
Nhớ lại những ngày chúng tôi bên nhau, tôi sượng sùng, xấu hổ với cô. Cô đã đóng một vai kịch rất xuất sắc, rất bản lĩnh, tôi vẫn chỉ là một con mồi ngây thơ. Ấy vậy mà tôi cứ tưởng tình yêu chân thành của tôi đã cảm hóa được cô. Giờ đây cô ngồi đó, lạnh như tiền. Cô đang nghĩ gì về tôi, một tên điệp viên hạng bét, ngây ngô, lãng mạng tiểu tư sản?
Xe đến Bình Định, ghé vào một quán cơm bên đường, tôi được tên bộ đội mở còng nhưng dặn "Cần gì nói tôi, giữ khoảng cách năm bước, đến gần hay xa hơn, sẽ bị bắn bỏ" Tôi được dẫn vào ngồi một bàn ở một góc quán, mấy tên bộ đội ngồi hai bên, còn cô ta thì ngồi riêng. Sau bữa ăn, lúc trả tiền cô lôi ra một xấp bạc mới tinh, rút vài tờ vất đấy, đứng dậy, không lấy tiền thối. Tôi cố tỏ ra sợ sệt và ngoan ngoãn để chúng tin, hi vọng đến chiều tối nếu cũng ăn uống như thế nầy tôi sẽ bỏ chạy rất dễ dàng và bóng đêm sẽ che chở cho tôi. Nhưng tôi đã lầm, xe chạy suốt đến sáng, đến ngã ba Hàng Xanh theo đường Bạch Đằng, rồi Chi Lăng, Ngô Tùng Châu và vào hẽm chợ Cây Quéo. 
Cô vào nhà một lúc lâu mới đi ra với bà mẹ. Hai mẹ con ngồi phía trước, xe lại tiếp tục trở ra xa lộ đến Biên Hòa quẹo hướng Vũng Tàu. Tôi đoán chúng sẽ truy tôi về công tác ở Vũng Tàu, Long Hải trước đây hoặc giao cho lũ nằm vùng, nội tuyến đã bị tôi đưa đi tù, và chúng sẽ mặc sức trả thù. 
Đến Vũng Tàu, ghé mua mấy ổ bánh mì thịt, xe vào một khách sạn hạng trung bình. Sau khi ăn uống, làm vệ sinh, tôi lại bị còng tay cho vào phòng riêng, phía ngoài là hai tên bộ đội canh cửa. Tôi nghe cô ta dặn hai tên gác là phải cảnh giác cao độ với tên địch nguy hiểm đó (là tôi), và cô đến ủy ban quân quản có chuyện cần, sẽ về ngay. Tôi mệt mỏi lăn ra ngủ một giấc lấy sức, dự định tối nay leo cửa sổ trốn đi. Cái còng không thành vấn đề, một cọng thép nhỏ là xong, và cọng thép đó đang nằm trong sợi dây đồng hồ mà tôi đã có được lúc tôi đòi đi tiểu ở hàng cơm ở Bình Định. Nhưng đến gần tối, sau khi được ăn một ổ bánh mì nữa, chúng lại còng cả chân tôi vào giường và hai tên bộ đội ngồi ngay trong phòng tôi, thay phiên nhau lõ đôi mắt cú vọ canh chừng tôi. Thế là hết đường trốn thoát! Nhớ lại thời gian hứa hôn chúng tôi sống bên nhau, cô đã dần dần hiểu tôi, trong sự săn sóc cô đón ý tôi rất tài. Lúc đó tôi sung sướng nghĩ rằng mình có được cô vợ toàn tâm toàn ý, bây giờ chính cái toàn tâm toàn ý kia lại hại tôi. Cô đã thấy được không sai chạy những gì tôi nghĩ trong đầu, dù chỉ vừa thoáng qua là cô đề phòng ngay.
Tối đó độ hơn mười giờ, tôi được dẫn ra xe, vẫn đủ sáu người như trước. Xe chạy loanh quanh trong thành phố một lúc rồi hướng ra Bãi Sau. Trời đêm đầy mây, lạnh kinh khủng, miền Nam chưa bao giờ lạnh như năm đó, đường vắng tanh, lờ mờ ánh đèn, tiếng sóng vỗ rì rào, buồn bã. Xe chạy đến cuối bãi thì dừng lại. Cô ra lịnh bịt mắt tôi lại.
- Đồng chí đưa tôi khẩu AK. Cứ ở đây chờ, khi nào nghe tiếng súng nổ tôi sẽ ra.
Và cô nói với bà mẹ, giọng lạnh lẽo, hàm răng rít lại.
- Mẹ phải theo con, xem con trả thù kẻ đã giết hại gia đình mình và bao nhiêu đồng chí khác nữa.
Đúng là oan oan tương báo. Tôi đã xử tội tên nằm vùng giết cha tôi ra sao, bây giờ tôi sẽ gặp y như vậy. Nhưng tôi không nhớ rõ mình đã làm gì để cô thù hận tôi  đến độ giờ đây đem  ra xử  bắn tôi, không lẽ cô là con của tên nằm vùng kia?!
Cô lên đạn, chĩa súng vào lưng tôi, đẩy tôi đi trước. Cô  đã phạm một sai lầm chết người. Cô dí súng vào lưng tôi là giúp tôi nắm được quãng cách giữa cô và tôi. Tầm vóc cô thì tôi còn lạ gì. Chỉ cần tôi quay nhanh lại là mũi súng sẽ chệch ra ngoài và với một đòn chân, tôi có thể đá gãy cổ cô hay ít ra cũng hạ gục cô trong tích tắt. Trong bóng tối thì bị bịt mắt hay không cũng mù như nhau. Tôi lần tìm cọng thép trong dây đồng hồ và bắt đầu mở khóa còng tay. 
Được một quãng, khi đoán đã xa tầm nghe ngóng của mấy tên bộ đội, tôi vừa định ra đòn thì cô mở băng bịt mắt tôi.
- Anh cõng mẹ được không? Nhanh lên! Nếu có chuyện gì, anh và mẹ cứ chạy thoát đừng lo cho em. Có thuyền chờ sẵn đằng kia.
Cô ôm súng chạy phía trước, tôi cõng bà cụ men theo bờ rừng dương liễu mải miết theo cô. Độ một cây số, chúng tôi đến một thuyền nhỏ có người chờ sẵn. Thuyền được đẩy ra, nổ máy và nửa giờ sau chúng tôi ra thuyền lớn đi thẳng. 
Hôm sau chúng tôi được tàu Mỹ vớt về đảo Guam.
 
PHẠM THÀNH CHÂU

Sunday, April 24, 2016

Bốn Mươi Mốt Năm VNCH Sụp Đổ, Nhìn lại " Bên Thắng Cuộc " Như Ta Thấy !

bảy nhăm giặc cộng lên ngôi chúa
cả nước im re đợi chết mòn
trong xóm trình thưa mụ gánh cá
trong tù xanh mặt trước thoi, côn

trong chùa thầy tịnh theo cây kiểng
cha cũng hiền khô đứng lại ngồi
chỉ chíp miệng than cùng thế sự
đâu ngờ việt cộng bạc hơn vôi

trong chợ bán văn buôn chữ nghĩa
vắng hoe ruồi nhặng thưở làm trùm
đâu rồi ký giả ăn xin dõm
chuyên bới quen đào để mánh mung ?

trong trường nắng rọi trên bàn ghế
nam nữ sinh viên bỏ học rồi
kẻ đi nghĩa vụ, người thủy lợi
xanh xao cơm áo lệ tuôn rơi

trong phố Ba Tàu ôm mặt khóc
chết trân đứng ngó giặc vơ, thâu
cửa hàng, vàng đô tiền kiếm đưọc
giờ đây tay trắng đói như nhau

trong lều nước mắm thùng trơ rổng
Đức Thắng, Bình Hưng vắng bóng thuyền
Cồn Cỏ, Cồn Chà dân xóm biển
gạo dầu, hợp tác đói như điên

trong nhà buồn bã ngày tao ngộ
độc lập chồng con vắng bóng người
kẻ chết banh thây nơi chiến địa
người tù buồn tủi chốn xa xôi

trong bến tìm đường đi vượt biển
bảo giông, hải tặc hận miên trường
triệu người bỏ mạng làm mồi cá
bao kẻ còn chờ tận viễn phương

bức tranh mây chó " thời giải phóng "
bốn mươi mốt năm chẳng đổi dời
thương lính Miền Nam thành " giặc ngụy "
rợ Hồ bán nước lại lên ngôi
 
          Từ sau ngày 1 tháng 5 năm 1975, miền Nam hoàn toàn sụp đổ khi Tổng Thống Dương văn Minh ra lệnh buông súng đầu hàng. Ðây cũng là tai kiếp thế kỷ của Dân Tộc Việt do Cộng Sản Quốc Tế mang tới, cho dù Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và hầu hết các lãnh tụ cao cấp của Bắc Việt, trong suốt 20 năm lửa máu đoạn trường, luôn chối không có liên quan gì tới cuộc chiến. Nhưng lần đầu tiên ăn mừng ‘ mùa xuân đại thắng ‘ chính Tổng bí thư đảng CS lúc đó là Lê Duẩn, lại lên đài tuyên bố “ không có kẻ thắng, người bại “, chứ không phải Chủ tịch Mặt trận GPMN Nguyễn hữu Thọ, nhân vật mà báo chí trong và ngoài nước luôn nhắc nhở từ tháng 12/1960 cho tới 10 giờ trứa ngày 30-4-1975.
           Ðây là sự thật chứ không phải cảnh giả ngộ và đã xảy ra tại Sài Gòn hôm đó, luôn cả chính phủ lâm thời miền Nam, cũng coi như cùng chết yểu theo chính phủ VNCH, mà mới hôm qua vẫn còn đóng đô trong trại David (Tân sơn Nhất). Hình ảnh còn thấy đưọc sự sống của mặt trận là mấy lá cờ nửa xanh, nửa đỏ giữa có ngôi sao vàng, được treo lủng lẳng theo đoàn tăng, pháo do Liên Xô chế, nhưng trên xe toàn bộ đội Bắc Việt, từ người lái cho tới Bộ Binh tùng thiết. Ðiều này dễ nhận, nhờ giọng nói, hình vóc ốm yếu nhỏ bé so với người Nam và nhất là hầu hết đều môi thâm, răng hô, má thỏm, có lẽ vì ai nấy đều hít hút quá nhiều thuốc Lào.
           Riêng Mặt trận cũng đã về thủ đô nhưng rồi ai tớ, ai thầy, đã quá rõ ràng trên hàng ghế danh dự nơi khán đài do Phạm Hùng, Trần văn Trà chủ tọa. Màn hài kịch dài mấy chục năm chấm dứt. Người Nam kẻ Bắc từ đó lại ôm nhau chìm trong vũng bùn ô nhục của xã nghĩa thiên đàng. Lừng lẫy nhất trong mặt trận hửu danh vô thực là Nguyễn thị Bình, một trong những người của bốn phe đã đặt bút ký vào trong manh giấy lộn cũng là tờ đoạn mãi VNCH cho CS của cặp Nixon-Kissiger, ngày 27-1-1973 tại Ba Lê.
          Tất cả như đám lục bình nổi trôi theo con nước ròng, nước lớn trên các kênh rạch, sông Hậu, sông Tiền, sau khi Bắc Việt cưởng đoạt được Nam VN. Y thị Bình và đồng bọn trong cái mặt trận ma, bị vứt vào quên lãng như tờ giấy lộn trên với cái thân phận bù nhìn, phất phơ, ngồi trơ mắt ếch. Bốn mươi mốt năm qua rồi, ngày nay các huyền thoại BỊP một thời làm mù mắt cả nước cũng theo chuyện xưa, tích củ, chuyện bán nước buôn dân, tàn theo mùa chinh chiến,cho dù ấy năm trước đây đã có một nhà văn giai VC là Huy Đức, xào nấu trở lại với những hương liệu có tẩm hóa chất độc của hải ngoại, đã làm bừng lên nổi căm hờn của người Việt trong và ngoài nước, trước cảnh “quốc phá, gia vong “ do chính kẻ mạo nhận là “ bên thắng cuộc “ mang đến cho đất nước và dân tộc Việt. Ngoài ra bất cứ ai cũng đừng quên rằng tầm quan trọng lịch sử của một cuộc chiến nhất là cuộc chiến VN, hầu như do các huyền thoại liên hệ quyết định. Nhưng huyền thoại cũng là con dao hai lưỡi, để kết luận sự thành bại của cuộc chiến. Tóm lại qua câu chuyện kể về “ bên thắng cuộc của mình “, Huy Đức và nhóm bưng bợ đã làm bộ “ bỏ quên  thực chất của câu chuyện “Đó là những gì có hôm nay trên đất Việt sau 41 năm “ bên thắng cuộc làm trùm “, mới thực sự đánh giá ai là giặc là nguỵ và ai mới xứng đáng đi vào lịch sử, để mai sau con cháu tôn sùng hay khinh miệt
          Ngày nay qua những khai quật của lịch sử trong núi kho tàng dữ liệu, từ Pháp, Mỹ cho tới Tàu đỏ,Việt cộng và VNCH, cho thấy những chiến thắng của Lê Duẩn, Võ nguyên Giáp, Văn tiến Dũng.. tại miền Nam trong suốt 20 năm đối mặt với QLVNCH, thật ra không có gì là vĩ đại như gần hết báo chí Tây phương viết theo lời đảng tuyên truyền. Những trận Ấp Bắc, Ðầm Dơi, Hiệp Hoà, Suối Ðá,An Lão, Bình Giã.. cho tới cuộc đại chiến hồi Tết Mậu Thân 1968, những trận long trời lở đất trên đất Cao Miên (1970), Hạ Lào (1971), rồi Vũng Rô, Ba Gia, Phụng Dư, Ðồng Xoài, Ðức Cơ, Bố Ðức,Cồn Tiên, Làng Vây, Cô Tô, Trí Pháp.. và mùa hè đỏ lửa 1972 cho đến hồi gần kết cuộc tại PhanThiết, Xuân Lộc,Biên Hòa,Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Long An, Sài Gòn.. mọi nơi, khắp chốn, từ trong núi cho tới thị thành, lúc nào VC cũng đánh lén, hồi nào cũng biển người, khi nào cũng có hỏa lực hùng hậu đưọc viện trợ hay mua chịu trả sau từ Nga, Tàu, Ðông Âu, Ðông Ðức.. nhưng đâu có lần nào thây không phơi xác đầy bãi, đánh nhanh, rút vội quay về rừng để bổ sung nhân số ?
          Khi thảm kịch VN chính thức thành hình ngày 27-1-1973, qua cái gọi là hiệp định chấm dứt chiến tranh, sau 4 năm 9 tháng Mỹ và khối CS quốc tế cò kè bán mua cái thân xác nhưọc tiểu VNCH. Rốt cục Mỹ rút bỏ VN bắt đầu từ thập niên 70 qua chương trình VN hoá chiến tranh. Nhưng không có Mỹ chiến đấu bên cạnh, lại không ngờ những năm 1970-1973, QLVNCH qua sự chỉ huy tài ba của những Sĩ quan trung cấp, trong mọi quân binh chủng từ Nhảy Dù, TQLC, LLÐB,BÐQ, Thiết Kỵ,Không Quân, Hải Quân.. cho tới các Sư đoàn bộ binh 1,2,3,5,7,9, 18,21,22,23,25 kể cả các đơn vị Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cảnh Sát Dã Chiến, Bình Ðịnh Xây Dựng Nông Thôn.. luôn cả Nhân Dân Tự Vệ.. đưọc các nhà quân sử xếp loại Lính thiện chiến nhất thế giới.
           Thật vậy, có là lính chiến đấu ngoài mặt trận, mới cảm nhận được lòng hy sinh vô bờ bến cùng với sự can đãm của QLVNCH trong các mặt trận long trời lở đất tại An Lộc, Kon Tum, Quãng Trị, Bình Ðịnh, Thưọng Ðức, Sa Huỳnh, Tống Lê Chân, Xuân Lộc và những ngày hấp hối tại Phan Thiết,Tây Ninh, Củ Chi, Long An, Biên Hoà, Sài Gòn..
          Sự chiến đấu phi thường của những người lính Miền Nam, lãnh một năm lương không bằng một trận cười của các me tây, me Mỷ, gái điếm, nam nữ ca sởi, các văn hào thi bá nhớn bé và mấy đại tri thức, chính khứa khoa bảng.. khã kính lúc đó. Trong đỉnh cao thời thương này, đã có không ít người vừa sống ký sinh gửi mạng cho lính bảo vệ, lại vừa ăn cơm ta, mang lon quân đội, sử dụng công xa chính phủ nhưng thờ ma Hồ.
           Hiệp định Paris 1973 là vết dao trí mạng của Kissinger đâm đúng ngay hồng tim của VNCH, khi Mỹ và CS quốc tế toa rập, hợp thức hoá sự có mặt của bộ đội Bắc Việt trên lãnh thổ miền Nam, cắt và ngưng viện trợ cho QLVNCH như đã từng ký hưá để tháo chạy nhục nhã ngay cả trên nóc nhà. Tồi bại hơn hết là hành động của Mỹ dùng viện trợ bắt ép VNCH ký nhận bản hiệp ước vô lý bất nhân 1973, khiến quân dân miền Nam khởi đầu sự tan rã vì bất bình trước sự kiện miền Nam đang thắng lớn, bổng dưng đầu hàng cái mặt trận MA qua chấp nhận sự hiện diện của cái gọi là chánh phủ lâm thời Ma và quân đội giải phóng MA, mà hầu hết đều là bộ đội miền Bắc. Thêm vào đó là bọn hàng binh phản chiến, bọn trí thức thời thượng khôn nhà dại chợ.. tất cả hiệp đồng đâm sau lưng người chiến sĩ, thì bảo làm sao lính không chết tới bị thương nhưng trời thì cao, đất lại rộng nên đâu có thấu hiểu thân phận cùng mạt của người lính VNCH .
          Về cái huyền thoại chông Pháp, chống Nhật, chống Mỹ cứu nước, thì cũng chẳng có gì vĩ đại như đảng ra rã tuyện truyền, vì chống Pháp là công của toàn dân có cả người anh vĩ đại phương bắc, chỉ huy và lảnh đạo Võ Nguyên Giáp tại mặt trận Ðiện Biên Phủ 1954. Nhật thì đâu có đánh trận nào mà tự ý họ giãi giáp và rút về nước sau khi đầu hàng Ðồng Minh vô điều kiện, Riêng thắng Mỹ thì lại càng phải xét lai, vì với lực lưọng CSVN lúc đó, chỉ mới đưọc xếp loại ba trên thế giới, thắng hay bại đều do quân viện Nga-Hoa, hậu phương trên đất Bắc sau mấy chục năm chiến tranh triền miên khốc liệt, coi như sắp cạn kiệt kể cả người, vậy lấy gì để thắng Mỹ là một nước giàu mạnh trên thế giới, đúng nghĩa vật chất lẫn quân sự.
          Tóm lại người Mỹ chỉ vì theo đuổi chính sách tự trói hay đúng ra theo đuổi một giải pháp chính trị cho Ðông Dương, hơn là dùng bom đạn gây đổ vở chết chóc như CS chủ trương “quyền lực trên đầu súng “ trong suốt mấy chục năm qua.Sự thực ngày nay về sức mạnh Mỹ qua cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991,Nam Tư và mới đây tại A Phú Hản, Irap, coi Nga Tàu kể cả Pháp chuyên rình ăn ké như pha rề. Bao nhiêu đó, cũng đủ chứng minh rằng với 500.000 quân Mỹ có hỏa lực hùng hậu nhất thế giới, hậu phương tiếp liệu vô tận, giàu mạnh và tài giỏi như quan thầy Nga còn tan hàng, bỏ đảng, nếu Mỹ thật tâm đánh giặc thì Bắc Việt sức nào mà đở nổi và chống đưọc bao lâu ?
          Ngay cả trên bàn cờ chính trị, CS đã thắng gì, dù có gây đưọc vài ba phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ, nhưng đây là sản phẩm của bọn đạo tặc truyền thông da trắng, chứ không phải công của VC. Sau này mới biết được, người Mỹ đã dự liệu trước sự vi phạm trắng trợn hiệp định 1973 và bản tuyên cáo của La Cell St. Cloud vào tháng 6/1973 của Bắc Việt, để có lý do và công pháp quốc tế, hủy bỏ lời hứa viện trợ tái thiết cả chục tỷ đô la, đồng thời được quyền pháp định theo Liên Hiệp Quốc, phong tỏa kinh tế và cấm vận VC dài hạn cho tới đầu năm 1990 mới hủy bỏ.
           Nhưng cuộc chiến Ðông Dường lần thứ ba 1955-1975, dù cho có gọi bằng thứ danh từ hoa mỹ hay quỷ quái gì chăng nửa như chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh giải phóng dân tộc, nội chiến Nam-Bắc.. thì tựu trung cũng là Bắc Việt xâm lăng VNCH. Cái đa dạng và phức tạp từ trong định nghĩa ra tới thực chất, đều thoát thai qua lớp hỏa mù tuyên truyền và đống núi tài liệu tả bánh lù , đối chọi tréo cẳng ngổng làm cho lớp trẻ trong và ngoài nước, cũng như những kẻ bàng quang hôm trước, hôm qua cho tới bây giờ, vẫn không dám chắc đâu là sự thật ?
          Từ đó suy diễn bậy bạ và trút hết mọi thua thiệt, lầm lỗi, tội ác (?) vào “ kẻ thua cuộc  VNCH “, đáng ra phải đưọc vinh danh vì công trạng giữ gìn và bảo vệ nước Việt trước sự xâm lăng nhuộm đỏ của CS quốc tế. Ðây cũng là cơ hội để những người có trách nhiệm, hoặc vô tình hay cố ý, ở ngoài hay thực sự có mặt trong cuộc chiến, đổ hết tội lỗi vào Chính Phủ VNCH, bằng tội danh Tham Nhũng, Bất Tài, Bè Phái, Ðộc Tài, Quân Phiệt.. Trong lúc đó, thật sự những người này cũng có mắt tại hiện trường và cũng có trách nhiệm nhưng đã không làm gì hết. Rồi ba mươi bảy năm sau, chính những người này hay lớp trẻ, lớp mới, gần như không làm được gì để guíp giải quyết tình trạng thảm thê của đồng bào đang sống trong địa ngục đó. Thua me gỡ bài cào, họ lại quay vào chửi bới moi móc VNCH, chà đạp ‘ Lá Cờ Vàng ba Sọc Ðỏ của Quốc Dân VN ‘. Đã thế còn công khai ca tung một cách mù quáng và vô liêm sĩ bọn bồi bút VC, đã và đang múa may quay cuồng làm đảo lộn cuộc sống của người Việt TNCS hải ngoại. để tỏ ra mình là “ thành phần thứ ba đối lập “  đang  nhúng tay vào giải quyết những vấn đề gai gốc trước mặt của đất nước, những chuyện mà không phải ai cũng làm được trứ họ (?) !
          Hơn tám mươi năm tìm đủ trăm phương ngàn kế, tận dụng hết tất cả thủ đoạn, xô lệnh sơn hà, gây cảnh máu sông, xương núi, để làm chủ cho đưọc VN, cuối cùng lúc chính thức thánh “ bên thắng cuộc “, cũng là lúc những huyền thoại thay nhau òa vỡ trong biển hận trời hờn, ngay cái phút đầu tiên đối mặt “ người miền Nam đã bẽ bàng trước cảnh bị lường gạt thâm canh “, vì cái mặt trận MA chỉ là cái công cụ để bộ đội Hồ nhuộm đỏ đất Việt. Như vậy đối với cuộc chiến ‘ lưu manh này’ nếu người Việt Quốc Gia hôm qua, hôm nay vì “ thù nhà nợ nước và sĩ diện của dân tộc Việt “, đã phải tiếp tục sứ mệnh chống lại kẻ thù phản dân hại nước qua mọi phương cách,thì đó cũng là lẽ công bằng của trời đất nên có gì đâu mà nói !
          Rồi thì đổi đời bi thiết ngay trên vùng đất mới vừa đưọc cách mạng giải phóng, các anh hùng rừng núi Trường Sơn, mật khu Hố Bò trung kiên với đảng, ngày thứ nhất về thành đã võ vàng lột xác trước cảnh sang giàu của vùng bị tạm chiếm, mà đảng bảo là đói khổ lầm than. Sự bịp bợm của cấp lãnh đạo làm tan vở huyền thoại về ‘ đạo đức cách mạng’. Thêm một lần nửa người Việt cả nước nhận thực về tình cọng sản, chỉ đẹp khi chưa nắm chính quyền như trước năm 1954 ở miền Bắc và 1975 tại miền Nam.
          Ðất nước xơ xác tiêu điều dưới sự lãnh đạo của tập đoàn đỉnh cao trí tuệ, dân đói mặc bây, chỉ lo triễn lãm tội ác Mỹ Nguỵ, xây kỳ đài khắp quê làng, phố chợ, in sách để quảng bá về vụ Mỹ Lai, Bến Tre nhưng không nói tới thảm cảnh chôn sống giết dân Tết Mậu Thân tại Huế, trên đại lộ kinh hoàng, đường số 7, Bình Ðịnh, An Lộc, phóng đại huyền thoại Củ Chi lại quên là Ðịa đạo đã bị san bằng từ năm nào, kể cả cái R cũng thành bình địa, khiến Nguyễn chí Thanh phải tan xương nát thịt dưới bom Mỹ năm 1967.
           Tóm lại tất cả đều đi ngưọc lại lời Lê Duẩn tuyên bố, VC làm giặc chỉ để có quyền cướp của, giết người, hủy diệt tôn giáo, đình, chùa, nhà thờ, coi trí thức miền nam tệ hơn cục phân như Mao đã phán, kể cả số ít khoa bảng đã góp phần đem vinh quang cho đảng. Nắm súng trong tay,lại bá đạo, tàn độc nên khắp miền Nam (nhất là Huế, Đà Nẳng, Sài Gòn, Phan Thiết) không còn thấy cảnh đem bàn thờ Phật ra đường, ký giả đi ăn mày, cha tố cáo tham nhủng hay trí thức khùng coi đời như bửa tiệc nhân sinh. Ho Trịnh viết nhạc phản chiến hồi trước năm 1975. hết bài này tới bản khác, mà đâu có ai dám bắt bớ hay ngăn cản, vì sợ làm thui chột tài ba âm nhạc của một thiên tài (?)
           Tất cả im re lặng ngắt, thấy cán bộ đầu ngỏ đã khúm núm chắp tay thưa ông, dạ bà cần gì, dù cho những thành phần này trước đó bị họ coi rẽ khinh miệt vì nghèo đói lam lũ lao động, gánh nước mướn, ở đợ, đạp xích lô.. Sự co mình của những kẻ hung hăng nhất của ngày củ, khiến đảng càng kiêu căng phách lối, đốt hết sách vở miền Nam, bỏ tù hằng triệu quân công cán cảnh VNCH trước cảnh sa cơ, cày mộ tử sĩ , đuổi hằng trăm ngàn người Hoa ra khỏi nước để hốt vàng, chiếm nhà, đoạt xí nghiẹp, tài sản.. khiến cả nước ngáp vì bo bo độn gạo mọt. Nay hối hận thì cũng muộn màng, vì ngày trước giao khoán phần chống giặc cho lính, lại còn kết bè ăn có hạ nhục, đâm lén, phủ phàng. Nay lính đã rả ngủ, còn ai để bảo vệ cho dân và bọn ký sinh trùng ?
          Nhưng thê thảm hơn hết vẫn là chính sách trồng người, mà nạn nhân là các thế hệ thanh thiếu niên cả nước, bị nhét vào đầu những trang sử Việt viết bằng ý thức hệ duy vật Mác Xít cọng sản quôc tế, xóa bỏ nhiều anh hùng liệt nử của dân tộc Hồng Lạc, đem tên những cha căng chú kiết, được đảng phong là liệt sĩ, nữ lưu gì gì đó trám đầy, cùng với những bịa đật tuyên truyền, làm hư hỏng cả một thế hệ thanh niên ngày nay. Cũng may, ngày tàn của đảng tới sớm, nên sự thật đã tẩy sạch hết mọi bẩn dơ, kỳ quặc trong số lớn lớp người trên. Hởi ôi, chỉ có 55 ngày đêm đại bại, mà VN phải chịu sống trong cơn ác mộng của xã nghĩa thiên đưòng, chẳng biết bao giờ mới ngóc đầu lên như nhân loại, để thở hít không khí trong lành của xã hội người.
           Thật sự không một người miền Nam VN nào muốn có chiến tranh, bằng chứng cho thấy trong những ngày máu lửa tháng 4-1975, biết bao nhiêu người có điều kiện và hoàn cảnh để chạy, nhưng vì họ quan niệm hết chiến tranh rồi, thì chính quyền nào cũng vậy, chạy làm chi, sống ở đâu sao bằng sống trên quê hương mình, có mắm tôm, cà pháo, rau muống, giá sống.. ăn ngon hằng ngày. Cũng vì quan niệm sống hòa hợp như vậy, nên tất cả những người ở lại, từ sĩ thứ, quan quân người cả nước nô nức đi học tập theo lệnh chính quyền mới, để sau đó làm người mới, cùng nhau xây dựng lại đất nước như tâm nguyện của mọi người.
          Bởi vậy tất cả đã lọt vào bẫy rập của VC. Nhưng Hà Nội lúc đó không dám công khai tàn sát người Miền Nam như Polpot, nên dùng phương pháp tinh vi hơn bằng cách gạt quân dân VNCH vào tù học tập , để rồi chẳng bao giờ xét xử, hành hạ giết dần mòn những kẻ sa cơ thất thế, cũng vì sự lừa đảo và bán đứng của đồng minh Mỹ và các cấp lãnh đạo. Dân chúng cũng đâu có yên, của cải, vườn ruộng, nhà cửa bị cướp giựt, qua nhiều đợt cải tạo công thương nghiệp, do đảng dựng đứng để cướp của giết người. Nhiều người, trong số này không ít mẹ chiến sĩ, thương gia trí thức thân cộng, mất tiền, hối hận, nên phẫn uất tự tử chết. Hầu hết sau khi đã trắng tay, còn bị đảng tống khứ lên vùng kinh tế mới tận chốn rừng xanh, núi cao, khỉ ho cò gáy, ma thiêng nước độc, để rồi cũng chết dần mòn vì kiệt sức bệnh tật tại các nông trường tập thể.
           Riêng những người may mắn hơn, còn bám víu được ở thị thành hay nông thôn, số phận của họ cũng như gia đình và con cái, suốt ba mươi bảy năm qua, vẫn bị phân biệt ‘ ngụy quân - ngụy quyền ‘, làm hủy hoại tương lai của không biết bao nhiêu tài danh của đất nước, cũng chỉ vì sự tàn ác dã man của những “ bên thắng cuộc “, qua lớp son hào nhoáng “ cách mạng giải phóng “, mà mặt thật quá đỗi trân tráo, mỉa mai một cách vô liêm sĩ.
           Bởi sống không nổi trong địa ngục trần gian, nên hầu như cả nước kể luôn cái cột đèn nếu biết đi, cũng hồ hởi vượt biển vượt biên đi tìm tự do, gây nên cơn hồng thủy biển đông, khiến cho hằng triệu người phải chết thảm vì bảo tố và hải tặc Thái Lan. Tóm lại như từ thuở nào, chiến tranh hay hận thù, nguyên nhân đều phát xuất từ VC. Những người dân hiền lành có muốn không hận thù, đừng chống Cộng nhưng đâu có làm được vì hận thù vẫn cứ từ trên trời rớt xuống, tháng lại ngày qua, đè nặng bờ vai cuộc đời, không tìm cách vứt nó xuống, chẳng lẽ để nó đè chết người hay sao. Ðó là lý do người Việt phải bằng đủ mọi cách tiêu diệt chế độ VC, để có cơ hội sống còn.
          Trong dòng Việt Sử, từ ngày Vua Hùng dựng nước cho tới nay, cũng đã có nhiều cuộc tương tàn đổ máu giữa anh em đồng bào, như loạn Thập Nhị Sứ Quân thời Nhà Ngô, Nam Bắc Triều giữa Nhà Mạc và Vua Lê-Chúa Trịnh, rồi Trịnh-Nguyễn-Tây Sơn phân tranh, cuối cùng là cuộc chiến Quốc Cộng từ 1945- ?. Nhưng chiến tranh nào rồi cũng kết thúc, người Việt hai miền cũng giống như tiền nhân thuở trước, vì tình đồng bào đồng nước, đồng chung máu đỏ da vàng, mà có thể XÓA BỎ HẬN THÙ. Nhưng đối với đảng cọng sản quốc tế đang thống trị VN, thì miên viễn người Việt sẽ không bao giờ hòa hợp, hòa giải khi đất nước vẫn còn nghèo đói khổ đau, bị bất công đối xử, cướp bốc tài sản, hủy hoại tư cách con người.. trong cái gọi là thiên đàng xã hôi chủ nghĩa, từ ấy cho tới nay vẫn không bao giờ thay đổi.
          Mới đây ký giả Nhật tên Yoshigata Yushi, đã tới VN trong ngày đảng ăn mừng chiến thắng 30-41975, để tìm hiểu về số phận của những thương phế binh VNCH tại Nam VN. Thì ra đừng nghe những gì đảng nói như hãy quên quá khứ, đoàn kết lại để xây dựng đất nước, mà hãy về nhìn những người thương phế binh VNCH, sau ba mươi bảy năm ngưng chiến, vẫn là nạn nhân đang bị Hà Nội khinh bỉ, ngược đãi để trả thù:
          Sau đó, người ký giả trên kết luận là Chiến Tranh tại VN thực sự vẫn chưa kết thúc. Do trên người Việt khắp nơi vẫn phải tiếp tục đấu tranh để dành lại quyền sống và quyền làm người, chứ không phải vì chống cộng sắt máu, mà người Việt không chịu xóa bỏ hận thù hay hòa hợp hòa giải với Việt Cộng.
           Bổng thấy thương vô cùng những người lính VNCH, tuy bị đời chửi rủa là đánh giặc mướn cho Mỹ, nhưng suốt thời gian 1955-1975, ngư phủ VN từ Cửa Việt vào tới Hà Tiên, ngày ngày giăng câu thả lưới, bạn với gíó mát trăng thanh, mà không sợ một kẻ thù nào kể cả VC. Than ôi thời oanh liệt nay còn đâu, từ khi tập đoàn CSVN trở thành “ bên thắng cuộc “, chẳng bao giờ dám công khai giữ nước để chống lại kẻ thù Trung Công, đã và đang chiếm dần đất đai và biển đảo của VN.

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
tháng tư 2016
MƯỜNG GIANG