Thursday, May 12, 2016

Bà Mẹ Tây - Nguyễn Cát Thịnh

Tác giả là một Dược Sĩ hồi hưu. Ông tốt nghiệp Đại Học Dược Khoa Saigon 1968. Định cư tại Canada từ 9/1982, tốt nghiệp đại học dược khoa Toronto 1985. Năm 2011, ông góp bài Viết Về Nước Mỹ đầu tiên, một chuyện vui sống động trên một chuyến bay từ Hongkong về Bắc Mỹ. “Bà Mẹ Tây” hay “Thằng Tầu Con của Mẹ” là bài viết thứ ba của ông, không chỉ sống động mà còn xúc động trong cách viết, cách kể]. 
Mong tác giả sẽ tiếp tục viết.
* * *

- Gió đông gió tây, gió nào đã đưa cậu tới đây?

- Chẳng có gió đông, chẳng có gió tây, chỉ có "gió chướng" thôi. Gió chướng đã mang tôi tới đây để gặp tên bạn "khỉ gió" thuở còn tắm truồng đấy!

- Cậu lúc nào cũng ăn nói "khó tiêu". Dễ có trên ba chục năm không gặp cậu. Thú thật đi, có phải cậu đến đây để thăm bà bé không? Tôi không mách bà xã cậu đâu. Đừng lo.

- Cậu đoán đúng mới có một nửa. Đúng, tôi vừa đi thăm viếng một người đàn bà.

- Ai thế? Tôi có biết người đó không?

- Có thể cậu biết. Bà mẹ tôi ấy mà.

- Cậu không đùa đấy chứ. Mẹ cậu đã mất ở VN. Tôi cùng bạn bè đã gửi lời chia buồn từ ngày nảo ngày nào rồi. Hay là mẹ của mẹ bầy trẻ? Nhưng mà bà xã của cậu mồ côi mẹ mà!


- Không, bà mẹ nuôi, bà Steinberg mà tôi đã có lần nói với cậu khi mới tới thành phố này đó. Nhớ không? Đây là lần đầu tiên tôi đi tảo mộ. Tôi ở bên bà suốt buổi sáng nay rồi đi ăn trưa với lão luật sư già của bả.

- Nhớ, nhưng tôi chưa hề nghe nói cậu là con nuôi của bà triệu phú từ tâm này. Ê, đừng thấy sang bắt quàng làm họ nhé. Khi cậu rời khỏi nơi đây thì bả cũng đã qua đời. Tôi nhớ rất rõ.

- Hồi đó tụi mình chưa an cư nên tuy ở gần mà như nghìn trùng xa cách, chả mấy khi được ngồi tâm sự như bây giờ nên cậu không biết. Chuyện dài lắm, tôi sẽ kể cho cậu nghe. Bây giờ tụi mình đi kiếm cái gì lót dạ đã.

Buổi tối hôm đó, đôi bạn tri kỷ đối ẩm, nói chuyện "cổ tích".
*

Năm tôi đến đất nước này, chu kỳ suy thoái kinh tế bắt đầu. Việc làm hiếm hoi, nhưng chính phủ vẫn mở rộng vòng tay nhân ái tiếp nhận người tỵ nạn. Cậu có bà xã giỏi giang, đi làm nuôi chồng con. Cậu chỉ lo nội trợ, đưa đón con cái đi học, có thì giờ rộng rãi dồi mài kinh sử. Còn tôi, độc thân tại chỗ, vợ con còn kẹt lại VN, một cảnh hai quê. Vừa mong mau chóng ổn định cuộc sống vừa mong đủ điều kiện tài chánh bảo lãnh gia đình.

Chưa bao giờ tôi nghĩ có ngày phải đi ăn mày chính phủ Canada. Mỗi tuần sắp hàng ngửa tay nhận chi phiếu bảy chục đô la, rồi còn bị cô thư ký người Việt nói xỏ xiên, thúc giục tìm việc. Tôi đã cảm nhận tất cả ê chề nhục nhã của kiếp tha hương.

Rất may mắn, tôi đã gặp cậu và được cố vấn nên sau vài lần xin việc bị từ chối khéo, tôi điền đơn tại bệnh viện Montford theo đúng lời cậu chỉ dẫn. Lý lịch khai rất gọn, phần học vấn bỏ trống, không ghi tốt nghiệp đại học VN. Xin làm Pharmacy Attendant, công việc sai vặt trong khoa dược.

Bà trưởng phòng nhân viên bệnh viện đọc hồ sơ, ngước mắt nhìn tỏ vẻ thương hại rồi nói, được rồi, anh cứ về, khi nào có chỗ trống sẽ gọi phỏng vấn.

Vừa định đứng dậy thì bà ra dấu cho tôi ngồi xuống, ngập ngừng... Tôi biết bên hospice, nhà an dưỡng của bệnh nhân cận tử, đang cần một orderly nam, tức y công đàn ông. Nếu anh không ngại tôi sẽ giới thiệu. Đang đói việc, tôi bằng lòng ngay, bất cứ việc gì.

Y tá trưởng của hospice vui mừng đón nhận tôi.

Bà cho biết công việc không nặng nhọc nhưng đòi hỏi sự nhẫn nại hơn bình thường. Chỉ phục vụ một bệnh nhân đặc biệt và khó tính. Gia đình bệnh nhân này là ân nhân của bệnh viện, đã hiến tặng toàn bộ xây cất và các trang thiết bị cho hospice nên tên của người chồng quá cố, "J.D. Steinberg" được vinh danh trên bảng đồng.

Bà thành thật cho biết đã có 2 nữ y công bị trả lại vì bệnh nhân không hài lòng và thêm một nữ nữa bỏ việc vì không chịu nổi áp lực.

Tuy nhiên lương bổng rất hậu hĩnh. Bệnh nhân này sẵn sàng trả thêm tiền thưởng tương đương với tiền lương của bệnh viện.

Bà muốn thay đổi, đề nghị tuyển nhân viên nam, hy vọng nam có sức chịu đựng tốt hơn nữ.

Bệnh nhân là bà Steinberg, khoảng gần bảy chục tuổi, bị ung thư buồng trứng, đã di căn, giai đoạn cuối. Đẹp lão, mập mạp, tướng mệnh phụ. Bà tiếp tôi lạnh lùng, sau khi cô chuyên viên trang điểm rút lui. Hỏi vài câu vắn tắt lấy lệ, rồi cho tôi kiếu.

Quả thật công việc rất nhàn hạ, nhưng không thơm tho. Bác sĩ, y tá thăm bệnh và cho thuốc men theo thời khoá biểu. Cô quản gia kiêm thư ký công ty của gia đình trình diện vào buổi trưa mỗi ngày, đem thức ăn khoái khẩu của bà và quần áo mới. Tôi chỉ giúp bà làm vệ sinh tiêu tiểu buổi sáng, ngay trên giường và đổ phân vào cầu. Buổi chiều, sửa soạn bồn tắm, giúp bà làm vệ sinh thân thể và đẩy xe đưa bà đi dạo. Ngoài ra, chùi rửa phòng, thay bọc trải giường, mang quần áo chăn mền qua phòng giặt ủi...v...v... Thỉnh thoảng ghé mắt xem bà có cần sai bảo gì không. Khẩn cấp thì phải chạy tìm y tá bác sĩ trực.

Tôi được sắp xếp cho ở góc cuối phòng, ngăn bằng chiếc màn kéo, đủ kê chiếc giường đơn, ghế nằm và bàn viết. Một ngày chỉ thật sự làm việc độ 3 hoặc 4 tiếng, ăn uống ở câu lạc bộ. Thời giờ quá dư thừa nên tôi mượn sách chuyên môn của thư viện đọc, mơ một ngày nào đó sẽ lấy lại được bằng hành nghề.

Một buổi tối, bà rên khò khè đau đớn, tôi chạy lại thì nghe bà quát, đi lấy cho ta cái "donut" ngay. Ta cảm thấy khó chịu quá!

Tôi cuống quít nói, thưa bà giờ này quá khuya, e không có tiệm bánh donut nào mở cửa, bà có thể chờ đến sáng sớm mai không?

Bà nổi quạu, phán, đồ ngu! Xuống bảo y tá trực đưa.

Tôi răm rắp chạy báo cáo bà y tá già. Bà cười ngặt nghẽo, đưa cho tôi cái vòng cao su mầu cam trông giống như ruột xe vespa, bảo, đấy, donut là cái này này.

Tôi vỡ lẽ, té ra donut cũng là tên gọi của cái vòng đệm cao su, dùng để kê dưới bàn tọa cho êm.

Mấy ngày sau, khi đã hơi khoẻ, bà ngoắc tôi lại, ra lệnh, ê thằng Tầu con, xuống kêu con nhỏ làm tóc lên chải đầu cho ta. Hôm nay ta có khách lại thăm.

Bị chạm nọc nhưng tôi vẫn đủ bình tĩnh, khẽ thưa, xin bà đừng gọi tôi là Tầu con. Tôi đã 36 tuổi rồi và là người Việt Nam không phải Tầu.

Trái với sự mong đợi của tôi, bà tỏ vẻ thân thiện, ngồi thẳng dậy, tròn mắt, hỏi lại, Việt Nam? Việt Nam? Con trai của ta chiến đấu ở VN và đã mất tích từ năm 1970, cũng trạc tuổi của mi.

Tôi đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Ngờ ngợ có sự liên quan tới Bác sĩ John Steinberg mà tôi quen biết khi còn trong quân đội.

Kể từ đó, mỗi khi có dịp, tôi gạ gẫm bà kể thêm về người con trai. Bà rất hứng khởi.

Sự nghi ngờ ban đầu đã dần dần sáng tỏ. Gom góp các chi tiết và đối chiếu các sự kiện, tôi đã chắc đến 99.99% John Steinberg, con trai của bà, và BS John Steinberg, bạn tôi, là một người bạn quí.
*

Theo bà, John là một đứa trẻ có nhiều cá tính ngay từ nhỏ. Thông minh, bướng bỉnh, tinh thần tự lập cao. Nhiều tự ái, nóng tính, hơi cố chấp và đặc biệt xung khắc với cha.

Ông Steinberg muốn hướng chàng thành một doanh gia. John, trái lại, thần tượng BS Albert Schweitzer. Ước vọng trở thành thầy thuốc giỏi, từ bỏ thế giới văn minh, đến các xứ nghèo Phi châu, mang tài năng và nhiệt tâm phục vụ không điều kiện.

Sau khi tốt nghiệp y khoa Mc Gill, lúc chuẩn bị nội trú chuyên ngành tại bệnh viện Ottawa thì xảy ra một cuộc đấu khẩu dữ dội giữa hai cha con. John giận cha, bỏ qua Mỹ, tình nguyện nhập ngũ. Được huấn luyện quân sự tại Fort Bragg và tu nghiệp chuyên môn tại Womack Army Medical Center NC. Y sĩ Đại uý John Steinberg sau đó được gửi qua Việt Nam, bổ sung toán quân y thuộc liên đoàn 5 lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ, đóng tại Nha Trang.

John vẫn thư từ liên lạc với bà mẹ đều đặn. Cho đến một buổi chiều ảm đạm mùa thu năm 1970, ba sĩ quan đồng ngũ của binh chủng gõ cửa báo tin con bà đã mất tích khi đang thi hành nhiệm vụ, được ghi vào danh sách M.I.A.

Ông Steinberg bị nỗi hối hận dầy vò, tự đổ lỗi cho chính mình, đã đưa đẩy con trai vào chỗ chết. Ông qua đời ba năm sau.
*

Thời gian John công tác, tôi đang làm việc tại bệnh xá gia đình binh sĩ cũng đồn trú Nha Trang.

Chúng tôi cùng đi làm dân sự vụ thường xuyên tại các bản thượng hẻo lánh nên quen biết rồi thân nhau. Thỉnh thoảng tụ tập ăn uống nhậu nhẹt tại các quán bờ biển hoặc đi nghe nhạc phòng trà.

Khi tin John tử trận bay đến phòng làm việc, tất cả ban quân y chúng tôi đều bàng hoàng. John và toán dân sự vụ Việt Mỹ chết bỏ xác khi máy bay trực thăng trục trặc kỹ thuật, đáp tạm xuống bãi đất hẹp gần nhánh sông chảy xiết. B40 bắn rớt ngay lúc vừa cất cánh trở lại. Duy có một y tá VN tên Công thoát hiểm một cách kỳ diệu. Hắn ngụp lặn, bơi ngược dòng nước, băng rừng suốt đêm đến được nơi an toàn.

Quá hoảng loạn trong nỗi kinh hoàng tột độ, y tá Công bị hậu chấn thương nặng, chuyển về khoa tâm thần tổng y viện Cộng Hoà điều trị vài tháng rồi được cho giải ngũ. Hắn vẫn đến xin thuốc an thần và thuốc ngủ đều đặn nên từ đó anh em đổi biệt danh "Công ngủ" thành "Công không ngủ".

Những năm cuối của thập niên 70 và đầu thập niên 80, tôi hay lang thang khắp chợ trời. Tình cờ gặp lại "Công không ngủ". Hắn đã lột xác, trông bảnh bao, da dẻ hồng hào, ra dáng công tử vườn. Hắn khoe buôn bán thuốc tây, thu nhập khấm khá. Hắn bỏ một buổi buôn bán, mời tôi đi nhậu ở tiệm ăn sang trọng trên đường Nguyễn Huệ. Đãi rượu Martell và thuốc thơm ba số. Lúc đã ngà ngà, hắn nhắc lại chuyện cũ. Bật mí tất cả những gì chưa từng bật mí.
*

Chiếc trực thăng chao đảo vì phi công bị B40 xuyên nát cổ. Đủ loại súng thi nhau nhả đạn, mọi người nhốn nháo chen nhau nhảy xuống. Đạn đan tròng tréo, có người rớt lịch bịch, có người nằm xuống khi chân chưa chạm đất. Bác sĩ Steinberg cùng hắn và vài người nữa chạy thẳng xuống sông. Các người kia bơi theo dòng nước. Ông bác sĩ Mỹ to cồng kềnh, bơi hoặc lặn cũng không ổn nên tìm chỗ ẩn nấp dưới đám lau sậy. Vốn là dân xóm Cồn, giỏi bơi lội, lại nhỏ con nên "Công không ngủ" nhanh như chớp, phóng xuống giữa dòng, vớ một ống sậy dài, ngậm thở, lặn ngược dòng, đánh lạc hướng của nhóm du kích chạy xuôi trên bờ đang truy đuổi từng người. Nghe tiếng súng AK nổ ròn rã, hắn biết những bờ bụi chắc chắn là những mục tiêu bị nhắm bắn. Hắn tự khen mình thông minh, không trốn theo ông bác sĩ cũng không bơi xuôi giòng. Rất có thể nhiều người đã lãnh đủ những tràng đạn vừa qua.

Đợi khi bóng dáng đám du kích đã hoàn toàn mất hút, hắn bơi đến chỗ ông bác sĩ thăm dò. Vùng máu loang lổ đang lan rộng chứng tỏ ông đã trúng đạn. Sờ mũi, vạch mắt, nghe tim, biết ông đã chết, hắn chỉ kịp mở nút gài túi áo trên lấy chiếc ví dầy cộm, lột chiếc đồng hồ trên tay.

Tiếng đám du kích vui cười nghe rõ dần, có lẽ họ trở lại thu nhặt chiến lợi phẩm. Hắn đẩy xác ông bác sĩ ra giữa dòng để gây sự chú ý, giúp hắn có thêm thì giờ lặn ngược dòng trốn càng xa càng tốt.

Nằm ếm dưới nước, chờ trời tối, hắn bước nhanh vào khu cây cối rậm rạp, nhắm hướng sao đi tới. Rạng sáng, hắn gặp một người đàn bà thượng đeo gùi sau lưng, địu con phía trước đi làm rẫy. Hắn bập bẹ vài tiếng thượng học được, xin chỉ đường đến đồn bót gần nhất.

Bài học mưu sinh thoát hiểm, cộng với may mắn cùng sự giúp đỡ của người dân tốt bụng đã đưa hắn trở về bình yên.

Lợi dụng việc sống sót hy hữu sau tai nạn, hắn đã đóng kịch rất khéo, giả bệnh, qua mặt được mọi người và giải ngũ.

Hắn cho biết trong chiếc ví của ông bác sĩ, ngoài số tiền mặt khá lớn, đủ để hắn sửa sang nhà cửa và mua chiếc xe Honda 90 đời mới, còn có một lá thư, một tấm hình, vài thứ giấy tờ linh tinh.

Hắn cho tôi địa chỉ nếu muốn đến xem. Tôi không có dịp vì còn mải lo chuyện vượt biển.

Sự sống của bà Steinberg kéo dài hơn ước tính của các bác sĩ. Bà cho là lời cầu nguyện của bà đã được lắng nghe và hy vọng phép mầu nhiệm sẽ đến qua ơn cứu rỗi.

Một tuần trước sinh nhật, bà điện thoại cho hai cô con gái lớn nhắc nhở. Năn nỉ các con cháu sẽ đến và ở chơi với bà một buổi. Bà dặn tôi đến ngày đó phải thu dọn căn phòng trống kế bên sạch sẽ, kê thêm bàn ghế và phụ giúp nhà hàng chăm lo phần ẩm thực.

Tôi chợt có ý nghĩ nhân dịp này sẽ tặng bà một món quà sinh nhật bất ngờ. Đánh điện tín nhờ vợ tôi mang đến "Công không ngủ", hẹn giờ ra bưu điện nói chuyện điện thoại viễn liên.

Tôi ngỏ ý muốn mua cái ví của BS Steinberg cùng tất cả các thứ trong đó. Thỏa thuận xong giá cả, tôi yêu cầu hắn tạm thời fax ngay cho tôi những thứ có trong chiếc ví.

Ngày hôm sau, chỉ nhận được bản fax của lá thư và tấm ảnh, nhìn không rõ lắm nhưng chữ có thể đọc mò được.

Tiền thì hắn nhận đủ nhưng chiếc ví không bao giờ được gửi. Về sau nghe chú hắn nói, hắn đang tìm đường vượt biên và cái ví sẽ là lá bùa khi xét ưu tiên định cư Mỹ.

Sau nhiều năm không ai nhận được tin tức về chuyến tầu của hắn. Có lẽ cái ví cũng theo hắn định cư dưới lòng đại dương.

Buổi sáng sinh nhật, bà dậy thật sớm tuy cả đêm trằn trọc. Người làm tóc, người trang điểm bận tíu tít. Người ta thay cho bà một bộ đầm sang trọng. Trông bà tươi tỉnh, cười nói huyên thuyên, không ai nghĩ rằng đó là một bệnh nhân sắp từ giã cõi trần. Bà nói đã lâu lắm rồi, không thấy mặt mấy đứa cháu ngoại, không biết chúng nó cao lớn thêm và xinh đẹp như thế nào. Bà tưởng tượng sẽ ôm từng đứa, sẽ phủ mưa hôn trên từng phân vuông của những khuôn mặt thiên thần. Sau đó nếu Chúa có bắt đi ngay bà cũng an lòng. Chỉ tưởng tượng thôi mà cảm xúc đã dâng trào trên niềm hạnh phúc ảo.

Các tiếp viên nhà hàng mang thức ăn bầy biện đẹp mắt, chiếc bánh sinh nhật hấp dẫn đặt giữa bàn. Tất cả kiên nhẫn chờ được phục vụ.

Suốt từ sáng đến quá trưa, bà bồn chồn, đứng ngồi không yên. Vẫn không thấy con cháu xuất hiện. Toàn thể nhân viên hospice không chờ đợi được nữa, bàn nhau tụ tập vây quanh bà, vỗ tay hát bài mừng sinh nhật. Bà gắng gượng ngồi nghe đến câu cuối, xua tay ra dấu mệt mỏi, để nguyên quần áo nhờ tôi đỡ lên giường.

Cô thư ký lăng xăng lên xuống, liên tục điện thoại khắp nơi, tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra. Buổi chiều, cô trở lại buồn bã báo tin, cả hai gia đình của hai con gái bà đang vui chơi ở Disney World Orlando Florida từ vài ngày nay.

Bà Steinberg suy sụp tinh thần thấy rõ. Không ăn uống. Đóng cửa, không tiếp bất cứ ai. Tôi trở thành liên lạc viên duy nhất của bà với bên ngoài. Rất khó khăn ép bà uống thuốc đúng giờ.

Tối hôm đó, cơn đói đánh thức, bà sai tôi mua một tô súp gà và ly sữa. Tôi mua thêm một chiếc bánh chocolate donut và một cây đèn cầy. Bà chỉ húp vài muỗng súp và một phần ly sữa. Tôi mở bao lấy chiếc donut để trên đĩa giấy, thắp cây đèn cầy, bưng về phía bàn ngủ.
Run run hát nho nhỏ, happy birthday to you, happy birthday to you, happy birthday to Mrs Steinberg...

Bà há hốc miệng ngạc nhiên, im lặng vài khoảnh khắc rồi quay mặt vào tường. Tôi ngỡ bà phản ứng giống như khi nghe nhân viên bệnh viện hát chúc mừng trước đó. Ngờ đâu bà quay lại với đôi mắt ướt, giơ hai tay ôm chầm lấy tôi. Líu lưỡi cám ơn, cám ơn. Bà thổi đèn cầy rồi ăn hết chiếc bánh bình dân một cách ngon lành, nói, đây mới chính là cái "donut" mà ta muốn. Bà cám ơn tôi lần nữa, đã cho bà một sinh nhật tuyệt vời và độc đáo.

Bà vui vẻ trở lại nhanh chóng. Kể đủ mọi chuyện ngày cũ, toàn những chuyện về John. Trong ba người con chỉ có John nhớ sinh nhật của bà, dù đi đâu xa cũng quay về vào ngày ấy. Bà nhất định cho rằng, bằng cách nào đó, chính John đã mượn tôi thực hiện sáng kiến sinh nhật donut.

Tôi nói có một món quà sinh nhật và trao cho bà chiếc phong bì đựng bản fax của lá thư và tấm hình. Thêm một lần ngạc nhiên thích thú, bà mở ra. Mới lướt qua tấm hình và đọc vài hàng của lá thư, bà thở hổn hển. Những thứ này ở đâu ở đâu ra? Đúng là nét chữ của ta, đây là lá thư ta gửi John cám ơn lời hỏi thăm sức khỏe khi ta bị té gẫy chân và cho biết tình trạng đã ổn định. Làm sao mi có được? Nói ngay, nói ngay! Còn tấm hình mờ nhưng ta biết đó là hình chụp ta và con chó Buddy.

Tôi cho bà biết chuyện thật đời tôi, tất cả những gì tôi nghe về bạn quá cố của tôi, lúc còn sống, lúc lâm nạn và tại sao tôi có được những thứ đó.

Bà nhờ tôi kê gối đẩy lưng cao lên. Đọc kinh tạ ơn Chúa. Bà càng tin rằng John đã nhập vào tôi và mang thông điệp của tin mừng đến cho bà.

Bà đã mệt lắm rồi. Linh tính những ngày giờ cuối cùng đã điểm, tôi ở lại bên cạnh bà.

Thấy bà không ngủ, tôi hỏi có cần gọi y tá không? Bà không trả lời, cầm tay tôi đặt lên ngực phía trái tim, cặp mắt lạc thần, nhìn vào hư không, nói lẩm bẩm như người mộng du.

Baby John của mẹ, con có biết 12 năm nay không có ngày nào mẹ ngưng thương nhớ con? Mẹ nhớ từ tiếng con khóc lúc chào đời..., mẹ nhớ lúc con chập chững những bước đi.... Mẹ nhớ những ngày tuyết đổ mẹ dẫn con vào lớp học giao cho cô giáo vườn trẻ, con níu áo mẹ không rời, mẹ phải ở với con suốt buổi rồi đem con về.... Mẹ nhớ những đêm con ho cảm lạnh, mẹ thức trắng đêm ôm ru con ngủ.... Mẹ nhớ...Mẹ nhớ.... Mẹ khóc mừng ngày con tốt nghiệp đại học.... Mẹ tưởng con của mẹ sẽ mãi mãi êm ấm trong vòng tay mẹ. Nhưng con, con... đã đi và đi không trở lại. Lúc sinh thời, cha con nếu có lỗi với con thì cũng chỉ vì yêu con. Hai cha con bây giờ đã xum họp ở thế giới khác, đâu còn giận hờn. Mẹ cũng sắp sửa gặp cha con và con đây. Con ngoan nhé. Mẹ yêu của con.

Tôi lặng yên quỳ xuống đầu giường để bà vuốt tóc. Ước gì thật sự là John để bà trút hết nỗi niềm chất chứa bấy lâu và để cho tình mẫu tử thăng hoa.

Bà chợt tỉnh, nhận ra tôi nhưng vẫn tiếp tục xoa đầu.
Ta thấy hình ảnh của John qua con, con cũng là con ta. Bà dí ngón trỏ lên trán tôi, mỉm cười, nụ cười nhân ái nhất nhận được trong đời, mắng yêu, "THẰNG TẦU CON CỦA MẸ". Chúa ơi! Bà gọi tôi là con và xưng mẹ!

Không biết ai xúc động nhiều hơn ai. Có lẽ không phải là bà mà là tôi. Tôi bỗng buột miệng vô thức...Mẹ, Mẹ... rồi á khẩu. Dòng nước mắt tôi chảy, giọt nước mắt bà lăn dài. Cả hai ôm nhau hoà tan trong nước mắt.

Trưa hôm sau bà lệnh cho cô thư ký mời luật sư gia đình gặp bà thảo luận chuyện quan trọng. Ông đang có việc ở Âu châu nên chỉ nói chuyện qua điện thoại và hứa sẽ đổi vé, bay về trên chuyến gần nhất.

Bác sĩ được triệu đến khẩn cấp.

Bà Steinberg yếu dần, bỏ ăn từ chiều hôm trước, môi khô. Nuốt khó khăn. Mũi thuốc morphine giảm đau liều cao chỉ giúp bà thiếp đi một chốc. Đắp thêm chăn, xoa bóp chân tay, vẫn còn lạnh. Bà đã bị ảo giác, mất định hướng thời gian và không gian. Liên tục thì thào gọi tên John. Tôi nắm bàn tay lạnh của bà vuốt nhẹ, khẽ gọi, mẹ ơi! mẹ ơi!.

Bà thở không bình thường nữa, hắt ra rồi bất động. Bác sĩ vạch mắt, rọi đèn pin soi đồng tử, nhìn đồng hồ lắc đầu. Xong một kiếp người!

Chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ mọi người đã có mặt trong phòng. Hai người con gái đi cùng hai luật sư của họ, luật sư gia đình, giám đốc các công ty kinh doanh của gia đình, các đại diện và luật sư của các hội từ thiện, một vài họ hàng thân cận.

Tất cả yêu cầu luật sư gia đình công bố di chúc. Họ tranh cãi khá lâu, không ồn ào nhưng rất gay gắt. Không đi đến kết quả nên đồng ý giải quyết sau tang lễ.

Nghe thoang thoáng có người đề cập đến tên mình nhưng tôi để ngoài tai vì nghĩ không có gì liên hệ.

Luật sư yêu cầu giải tán để nhân viên nhà quàn làm phận sự. Nhiều người trước khi bước ra khỏi cửa ném cho tôi cái nhìn khó chịu, có người đi ngang tôi với vẻ thù hận ra mặt. Tôi không hiểu tại sao. Không lẽ kỳ thị chủng tộc?

Những gì xảy ra trong những ngày vừa qua khiến cho tôi chán ngán tình đời. Một quyết định xẹt trong đầu. Đi thật xa. Phải, sẽ đi thật xa để khỏi nhìn thấy những con diều hâu bạc tình bạc nghĩa đang rỉa xác một người đàn bà nhân hậu. Tôi bước vào phòng, đặt một nụ hôn trìu mến trên trán bà mẹ nuôi. Nói nhỏ, lạy mẹ, con đi.

Tôi về nhà nhét vội vài bộ quần áo vào va li, bỏ lại tất cả đồ đạc, ra bến xe đò Greyhound mua vé đi thẳng Toronto. Cuộc đời lưu lạc bắt đầu từ đó.
*

Ông luật sư đãi tôi ăn trưa tại một nhà hàng ở khu phố vắng. Chuyện xảy ra 32 năm trước được giải mật.

Khi ông đang ở Paris, bà Steinberg điện thoại, muốn sửa di chúc. Ông chấp hành chỉ thị, thâu băng cuộc đối thoại, soạn thảo văn bản ngay trên chuyến bay khứ hồi. Không may, bà đã không kịp duyệt ký trước khi ra đi.

Các cuộc tranh cãi sau khi bà chết bùng nổ giữa các luật sư.

Di chúc chính thức qui định rõ, gia tài được chia làm 3 phần đồng đều, cho 3 người con. Riêng phần của John Steinberg có ghi chú thêm. Vì đã được liệt kê trong danh sách quân nhân mất tích, nên nếu 5 năm sau khi bà mất, vẫn không nhận được tin tức mới, phần này sẽ được chia 50/50. 50% giành cho các cơ quan từ thiện đã chỉ định. 50% sẽ thuộc về 2 người con còn lại.

Theo bản dự thảo di chúc mới, phần của John được sửa lại, sau 5 năm phần này sẽ được trao cho tôi thay vì chia 50/50 cho các cơ quan từ thiện và 2 người con gái.

Ông luật sư yếu thế, không thuyết phục được mọi người chấp nhận lời di chúc phi văn bản. Nếu đưa ra toà án phân xử cũng không hy vọng thắng. Kiện cáo có thể kéo dài, sẽ rất tốn kém. Điều quan trọng nhất, người có quyền lợi là tôi thì biệt tích giang hồ, không tìm thấy địa chỉ liên lạc. Bản di chúc cũ được thi hành. "Định mệnh đã an bài", không thể thay đổi.

Ông trao cho tôi cuốn băng. Giữ lại như một kỷ niệm, ghi nhận tình thương và lòng hào hiệp của bà mẹ nuôi đối với tôi.
*

- Là triệu phú hụt, cậu có tiếc không?

- Không, không bao giờ. Tôi vẫn nhớ chuyện tái ông thất mã. Trong cái rủi luôn luôn có cái may đền bù. Trong cái may luôn luôn ẩn nấp cái rủi. Nếu lúc đó là triệu phú, nhiều phần đã biến tôi hư hỏng. Tiền không do công sức của mình làm ra là tiền...lèo. Xài tiền lèo thì mình cũng trở thành lèo. Sẽ ỷ lại, không cầu tiến.

Vì đã không là triệu phú nên tôi mới là tôi như bây giờ. Bằng lòng với hiện tại.

Tôi có hai bà mẹ. Bà mẹ da vàng để lại vết tích đậm nét da vàng trên thân xác tôi. Bà mẹ da trắng để lại nhiều dấu ấn khắc sâu trong tâm khảm tôi. Tôi yêu cả hai.

Nếu đến lễ Vu Lan hay Ngày Của Mẹ có ai hỏi tôi, bông hồng hay bông trắng cài áo? Tôi sẽ bảo, vui lòng cài cho tôi hai bông trắng.

- Xin cạn ly mừng cậu có hai bà mẹ trong đời. Chúc cậu đêm nay ngủ thật ngon, sẽ mơ hội ngộ BÀ MẸ TÂY...có con là "thằng Tầu con".

Nguyễn Cát Thịnh

Thèm / Tiểu Tử


Thèm quá ! Tao thèm ăn ngay một tô mì ! Thọc tay vào túi quần, tao đụng hai tờ giấy bạc. Móc ra xem thì ra là hai đồng. Tao chỉ có ngần đó thôi ! Nhưng hai đồng, đủ để ăn một tô mì rồi ! Thì ăn... đại một tô cho nó đã ! Tao dợm bước vào tiệm nước bỗng nhớ lại vợ tao hồi sáng khi trao cho tao hai đồng đó, có dặn: “Chiều, anh ghé chợ Cây Quéo mua 6 cái hột vịt và nửa giỏ rau. Về, anh bắc nồi cơm bỏ vô luộc trước. Chừng mẹ con em về, em làm nước mắm rồi dầm cho nhà ăn.” Hình ảnh cả nhà tao 7 đứa quây quần bên “nửa giỏ rau và 6 cái hột vịt” và hình ảnh tao một mình ngồi ăn tô mì... làm tao khựng lại. Tô mì mà tao muốn ăn, thèm ăn, là cả một bữa ăn của gia đình ! Tao không thể đổi được. Thà là tao nhịn thèm...."
Thèm
Tiểu Tử
             Tụi bây biết không ? Bây giờ tao đi làm bằng xe đạp. Tụi bây đừng cười. Tao không giỡn đâu. Hồi xưa, trong bọn mấy đứa tụi mình, tao là thằng tếu nhứt. Tao hay kể chuyện tiếu lâm, hay bịa chuyện này chuyện nọ để chọc cười, để phá phách cho vui với nhau. Nên tụi bây thường nói: “Coi chừng ! Nó nói cái gì mình phải xin keo coi có đúng không, rồi hãy tin”. Hồi đó, khác. Bây giờ, khác. Tụi bây đi hết rồi, chỉ còn mình tao kẹt lại. Nói thiệt hay nói dóc đều không còn ý nghĩa gì nữa, cũng không còn giá trị gì nữa đối với tao. Bởi vì không còn ai để giỡn, không còn lòng dạ đâu để giỡn, và cái cười của tao đã vượt biên đâu mất từ lâu...
            Điều ngộ nghĩnh là, bây giờ, bất cứ chuyện gì tao kể ra chắc chắn tụi bây đều không tin ráo ! Bởi vì tụi bây đã di tản trước ngày 30 tháng tư 1975, không thấy không biết những gì đã xảy ra ở trong nước, làm sao mà tin ? Vả lại “những gì đã xảy ra” đã không xảy ra theo quy luật thông thường. Tất cả đều bị xáo trộn, đảo lộn một cách nghịch lý đến nỗi tao là người sống trong đó mà lắm khi tao phải tự hỏi: “Làm sao có thể như vậy được ?”. Vậy mà nó đã “như vậy được” tụi bây à ! Khó tin nhưng có thật ! Cho nên, những gì tao viết ở đây cho tụi bây hoàn toàn là những chuyện có thật mà... khó tin đó.

            Ngoài ra, trong cuộc sống hằng ngày, tao cứ phải nghe ra rả nói láo nói dóc, cứ phải luôn luôn nói láo nói dóc... Nào là “Đã vượt chỉ tiêu 150%” (Chỉ tiêu là con số đã được ấn định trước cho mức sản xuất, không biết là bao nhiêu, nhưng thấy tháng nào cũng vượt, năm nào cũng vượt, nghành nào cũng vượt – tao phải... dịch những chữ mới rõ ràng ra như vậy cho tụi bây hiểu, bởi vì bây giờ mình không còn nói giống như hồi trước nữa). Nào là “Đã hồ hởi phấn khởi đi làm nghĩa vụ” nghĩa là đi làm cái nghĩa vụ gì đó một cách... khoái trá sôi động bởi vì biết chắc rằng không đi cũng không được. Nào là “Hoàn toàn nhất trí” ( Bây giờ không  nói ề nhứt Ừ nữa, mà nói ề nhất Ừ. Nghe... cách mạng hơn ), nghĩa là “đồng ý hoàn toàn”, cho nó rồi, kẻo không thì... kẹt lắm. Mọi người đều “nhất trí” hết mà mình không “nhất trí” thì nó... lòi ra coi không giống ai. Thành ra “nhất trí” cũng có nghĩa là “phải làm như mọi người”. Tụi bây hiểu chưa ? Nào là “Làm việc rất là năng nổ”. Tao nghĩ chắc khỏi cần dịch. Tụi bây cứ nghe “nó... lốp bốp” là đoán ra cái nghĩa của nó rồi. Đại khái là làm việc giống như có cờ phất trống khua, có loa trên loa dưới ồn ào, còn lè phè suốt buổi hút thuốc uống trà là chuyện khác... vân vân và vân vân... Kể không hết !
            Sau bao năm dài sống trong môi trường như kể trên, “cái thèm” rất lớn của tao là được sống thật, nói thật. Cho nên, viết cho tụi bây giống như tao được... giải phóng. Vậy những gì tao kể ra đây, tụi bây khỏi phải xin keo !
            Bây giờ, tao đi làm bằng xe đạp. Vẫn làm ở sở cũ. (Còn được làm việc ở sở cũ là may đó nghen. Nhiều người bị đổi đi nơi khác xa hơn và thường thì ở một nghành nghề không dính dấp gì với phần chuyên môn của mình hết. Cách mạng mà !). Cái xe hơi con cóc , tao đã cho nó lên nằm trên bốn gộc cây để bán lần bán hồi bốn bánh xe, cái bình điện, cái đề-ma-rơ... Hầu như tháng nào tao cũng phải bán một món gì trong nhà, bởi vì lương của tao cộng với những gì vợ tao và hai con gái lớn kiếm được hằng tháng... không đủ sống. Tình trạng đó bắt đầu từ sau hai “trận” Nhà Nước đổi tiền.
            Đạp xe riết rồi cũng quen. Khoảng cách trên mười cây số từ nhà đến sở, tao coi như “pha”. Chỉ bực mình là xe đạp của tao hay sút sên khi nó “nhảy” ổ gà. Mà đường sá bây giờ, ổ gà ở đâu nó... lòi ra nhiều quá. (Người ta nói Mỹ rút đi, để lại toàn là đồ giả không – tao nghe sao chép vậy !). Cho nên, ở nhiều đoạn đường, tao lái xe tránh ổ gà giống như người say rượu ! Vậy mà có hôm vẫn “nhảy” ổ gà cho nên hai tay tao thường lấm lem dầu, đất, mà quần áo thì ướt đẵm mồ hôi.
            Bây giờ, tao làm việc “thông tầm”, nghĩa là làm suốt tới chiều rồi về sớm không có về nhà ăn cơm nghỉ trưa như hồi trước. Vì vậy, mỗi sáng tao mang theo một lon ghi-gô cơm với vài miếng cá mặn để ăn tại bàn viết buổi trưa. Chiều về sớm, tao có bổn phận nấu cơm làm đồ ăn, bởi vì giờ đó vợ con tao còn làm việc ở tổ may thêu cách nhà cũng khá xa.
            Mỗi sáng đi làm, lúc nào tao cũng đem theo cái giỏ đi chợ treo tòn ten ở ghi-đong, giống như đi chợ chớ không giống đi làm ! Bởi vì trong sở thường hay... bất thần bán cho nhân viên (gọi là “phân phối” chớ không gọi là “bán”, nghe có vẻ... chia xẻ hơn là trao đổi) cá, rau cải... vv. Tuy không nhiều và không được lựa chọn vì phải... bắt thăm trúng lô nào lấy lô đó, nhưng rẻ hơn ngoài chợ thành ra cũng đỡ. Cho nên, đi làm việc mà ngày nào cũng nhóng nhóng hỏi thăm “coi bữa nay có phân phối gì không ?” và chiều về đến nhà, thằng con tao – thằng út đó, tụi bây nhớ không ? bây giờ nó lớn đại rồi – chạy ra mở cổng lúc nào cũng hỏi: “Bữa nay có mua được gì không ba ?”. Và hôm nào thấy trong giỏ có đồ gì để ăn là mắt nó sáng rỡ. Tội nghiệp, sống trong sự thiếu thốn triền miên, có đứa nhỏ nào, có người lớn nào mà không nghĩ đến miếng ăn ?
            Bây giờ, tao hút thuốc lá vấn tay. Tao tự vấn lấy. Không phải tao muốn lập dị mà vì tao không đủ sức mua loại thuốc điếu kỹ nghệ thông thường. Mới đầu, tao vấn thuốc rê Gò Vấp. Nó nặng muốn... tét phổi ! Về sau, tao bắt chước thiên hạ mua thuốc lá Lạng Sơn đã xắt sẵn - nghe nói là giống thuốc Virginia, mấy ông ngoài Bắc bảo thế ! - đem trộn với thuốc Gò Vấp, hút thấy được. Vậy là mỗi khi muốn hút, tao cứ tà tà xé một miếng giấy quyến, tà tà rứt một miếng thuốc kéo cho dài dài ra khi để lên lòng giấy, rồi đặt hết tâm tư vào mấy ngón tay (của cả hai bàn tay đang chụm đầu lại nâng nhẹ giấy và thuốc !) để ém, lận, cuốn, xe... cho điếu thuốc được tròn đều trước khi đưa lên lưỡi liếm. Xem thật “ung dung nhàn hạ”. Giống như một nghi thức. Và tao có quyền tà tà vấn thuốc như vậy bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào: trong khi làm việc, trong các buổi hội họp học tập, và cả ngay trước mặt ông xếp của tao nữa (Bây giờ gọi là “thủ trưởng”, nôm na là “cái đầu đứng đầu”. Còn cái đầu có cái óc hay không lại là chuyện khác). Cho nên, hút thuốc vấn – đối với tao – giống như là một cách thoát tục, cái “tục” quá... tục mà tao đang sống bây giờ. Tuy nhiên, sao tao vẫn nghe thèm điếu thuốc ba số năm là loại thuốc mà mấy chục năm tao đã hút ! Làm như mùi vị của nó còn nằm ở đâu trong máu trong xương. Nhiều đêm trở giấc, tao nghe thèm ray rứt, thèm chảy nước mắt !
            Chiều hôm qua, trên đường về nhà, đạp xe tới chợ Tân Định thì trời bỗng đổ mưa. Tao tấp vô đụt mưa dưới mái hiên tiệm nước nằm ở góc đường dọc hông chợ (tao quên tên) và đường Hai Bà Trưng. Lúc đó, cỡ gần năm giờ (đồng hồ tay, tao đã bán từ lâu, nên từ lâu, tao chỉ... đoán giờ thôi !). Trong tiệm thấy lai rai có người ăn uống.
            Tao đã đứng sát vào vách vậy mà gió cũng tạt mưa vào ướt hết phía dưới chân. Một lát, tao nghe lạnh chân. Rồi tao nghe đói. Cái đói đến một cách đột ngột, giống như nó chui từ dưới chân chui lên. Hồi nãy đạp xe trên đường, tao có thấy đói đâu, mạêc dù  buổi trưa tao chỉ ăn có một lon ghi-gô cơm với ít mắm ruốc – dĩ nhiên là tao có uống thật nhiều trà, thứ này, loại thường thôi, trong sở ( Bây giờ gọi là “cơ quan”) có chị nhân viên tối ngày cứ châm đầy bình cho mình uống “líp” – Vậy mà bây giờ tao lại thấy đói. Có lẽ tại vì lỗ mũi tao nghe mùi hủ tiếu, mùi mì. Ờ... tụi bây không biết chớ từ lâu rồi – tao không nhớ là bao nhiêu lâu, nhưng chắc là lâu lắm – tao chưa được ăn mì. Bây giờ đứng đây phía đường hông chợ Tân Định, phía trên gió, vậy mà vẫn “đánh hơi” rõ mồn một mùi nước lèo của xe mì nằm bên đường Hai Bà Trưng, phía dưới gió, rõ như hơi của nước lèo đang bốc lên ngay trước mũi ! Tao nuốt nước miếng.
            Thèm quá ! Tao thèm ăn ngay một tô mì ! Thọc tay vào túi quần, tao đụng hai tờ giấy bạc. Móc ra xem thì ra là hai đồng. Tao chỉ có ngần đó thôi ! Nhưng hai đồng, đủ để ăn một tô mì rồi ! Thì ăn... đại một tô cho nó đã ! Tao dợm bước vào tiệm nước bỗng nhớ lại vợ tao hồi sáng khi trao cho tao hai đồng đó, có dặn: “Chiều, anh ghé chợ Cây Quéo mua 6 cái hột vịt và nửa giỏ rau. Về, anh bắc nồi cơm bỏ vô luộc trước. Chừng mẹ con em về, em làm nước mắm rồi dầm cho nhà ăn.” Hình ảnh cả nhà tao 7 đứa quây quần bên “nửa giỏ rau và 6 cái hột vịt” và hình ảnh tao một mình ngồi ăn tô mì... làm tao khựng lại. Tô mì mà tao muốn ăn, thèm ăn, là cả một bữa ăn của gia đình ! Tao không thể đổi được. Thà là tao nhịn thèm. Thà là tao chịu đói để về ăn chung với vợ con. Ăn thứ gì cũng được, ít nhiều gì cũng được, dở ngon gì cũng được. Miễn là ăn chung với tụi nó. Để thấy rằng cuộc đời tao bây giờ chỉ còn lại có tụi nó là quí thôi ! Tao nghe thương vợ thương con vô cùng. Và tao cũng nghe thương thân tao vô cùng...            Tao đứng yên nhìn ra mưa bỗng nghe hai má của mình ướt lạnh. Đưa tay lên vuốt mặt mà nghĩ rằng mình vuốt nước mưa trên má...(Trên đây là lá thơ viết lỡ dở, của ai viết cho ai, tôi không biết. Thơ viết trên giấy tập học trò, Chữ nhỏ li-ti, nhưng đẹp và rõ nét. Tình cờ, tôi nhìn thấy “nó” trong xấp giấy gói hàng cùa bà bán xôi đầu ngõ nên tôi xin...)
Tiểu Tử

Wednesday, May 11, 2016

Tường trình Đại Hội Thượng Đỉnh Chiến Tranh VN



 Với trên 60 diễn giả 13 đề tài chính, 5 đề tài chọn lọc, 2 cuộc triển lãm và 7 cuốn sách được giới thiệu, đó là nội dung của cái gọi là Hội Nghị Thượng Đỉnh Chiến Tranh Việt Nam trong 3 ngày 26-28 tháng 4 vừa qua tại thư viện Tổng Thống Lyndon Baines Johnson (LBJ) do thư viện này và Đại Học Texas tại Austin đồng tổ chức.
Bên cạnh những buổi thuyết trình và hai cuộc triển lãm bức tường ghi tên trên 58,000 binh sĩ Mỹ tử trận tại Việt Nam, và hàng chục những bài hát và hình ảnh của những cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, và kèm  theo là những buổi vinh danh cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại VN trong suốt 3 ngày, mỗi ngày 2 lần vào đầu và cuối giờ họp. Mỗi cựu chiến binh tham dự đều được gắn một huy hiệu do chính ái nữ út của cố TT. Johnson, bà Lucie Baines Johnson trao tặng.
“ Hãy dừng lại đây, cả bạn lẫn thù…”
“Hãy dừng lại đây, cả bạn lẫn thù, nơi đây dành cho tất cả mọi người, và những câu truyện của thời đại chúng ta mà không bỏ qua bất kỳ điều gì, dù là những lời phê phán ”. Câu nói của cố TT. Johnson trong ngày khánh thành thư viện này vào năm 1971 trong tiếng la hét của đòan biểu tình khoảng 2,100 sinh viên chống chiến tranh VN ngày ấy, đã được Giáo sư Mark Updegrove, trưởng ban tổ chức Hội nghị The Vietnam War Summit nhắc lại trong bài diễn văn mở đầu của Hội nghị mà ông gọi là: “để tìm hiểu một cách thẳng thắn và toàn bộ của cuộc chiến tranh mà hơn nửa thế kỷ qua luôn là một đề tài khi âm ỷ lúc nóng bỏng, để nhắm tới một tương lai mới,”.Tương lai này là sự hợp tác toàn diện với cựu thù nước Việt Nam Cộng Sản.

+Lịch sử phiếm diện và nỗi điên đầu của các vị Tổng Thống
Các cuộc hội thảo phần lớn được diễn ra tại đại sảnh của thư viện LBJ với sức chưá gần 1,000 ngưòi. Ngày đầu có khoảng 600 người tham dự.với đề tài:  “Những Chỉ Huy Trưởng” (The Commenders in Chief) bàn về hai vị TT. Hoa Kỳ Johnson và Nixon là hai vị TT nắm quyền trong thời gian chiến tranh VN khốc liệt nhất. Diễn giả gồm Ông Tom Johnson, phụ tá thư ký báo chí của TT. Johnson từ năm 1965 tới năm 1973 là năm TT. Johnson qua đời và ông Alexander Butterfield người làm việc trong toà Bạch Ốc trong cả hai thời kỳ Tổng Thống Johnson và đặc biệt là  với TT. Nixon, Mở đầu Giáo sư Tiến sĩ  Henry W. Brands. Chủ tịch phân khoa Sử của Đại học UT đưa ra một số dữ kiện lịch sử từ những ngày đầu Hoa kỳ có mặt tại biên giới Việt Hoa trong thế chiến Thứ hai để đối đầu với quân Nhật bản, lúc đó đang chiếm đóng Á Châu. Giáo sư Brands giới thiệu::” Hồ Chí Minh (HCM), một người mà ông gọi là “quốc gia” đã hợp tác với Hoa Kỳ qua việc giúp hai phi công Mỹ rớt máy bay và lấy tin tức tình báo cho Hoa Kỳ tại biên giới Việt Trung. Nhưng chính quyền của TT. Truman lại hợp tác với Pháp mà không giúp HCM nên ông ta phải tìm sự giúp đỡ của người Nga và Trung Cộng để giải phóng đất nước VN khỏi sự thống trị của người Pháp. Khi TT. Kennedy lên nắm quyền, ông tiếp tục chính sách của TT. Truman là đối đầu vói CSVN. Và khi TT. Kennedy bị ám sát, TT. Johnson lên kế vị và thừa hưởng chiến tranh VN…”.
Sự thật về HCM là thành viên đảng CS quốc tế và lý do khiến TT. Truman và Hoa Kỳ không ủng hộ ông ta vì họ biết rõ tung tích Cộng Sản của HCM và những tội ác của ông ta trong việc giết hại các lãnh tụ của các đảng phái quốc gia và những người không theo ông ta không hề được nhắc tới.

+Không thua bất kỳ mặt trận nào, nhưng Hoa Kỳ đã thua cuộc chiến.
Những tiết lộ của 2 người thân cận của  TT. Johnson cho biết dù chỉ làngười thừa kế cuộc  chiến, TT.Johnson tham chính với mục đích chính là để cải tổ xã hội. Các chương trình an sinh xã hội, phiếu thực phẩm cho người nghèo, quỹ tài trợ cho sinh viên nghèo, và nhất là xoá bỏ những kỳ thị dành cho ngườ Mỹ da đen, nhưng ông đã thắng cử vẻ vang năm 1964 chính là nhờ chính sách ủng hộ chiến tranh VN, để chặn làn song đỏ đang lan tràn sau thế chiến Thứ hai. Ông Tom Johnson phân tích: “Quân Đội Hoa Kỳ chưa thua bất kỳ mặt trận nào tại VN, nhưng chúng ta đã thua cuộc chiến”. Những cuộc biểu tình rầm rộ khắp nơi, ngay cạnh toà Bạch ốc với những tiếng la hét: “Hey, hey LBJ, how many kids did you kill today” thực sự đã thấm vào đầu TT. Johnson và nhất là gia đình của ông. Bà Lucie Baines Johnson, con gái út của TT. Johnson xác nhận lại điều này trong bài diễn văn khai mạc đầy xúc đông của bà.
Ông Tom Johnson còn cho biết, nỗi lo sợ lớn nhất của TT. Johnson là Hoa Kỳ sẽ thua. Ông muốn đánh lớn, đánh mạnh để thắng, nhưng ông, lại lo sợ Nga và Trung cộng sẽ nhảy vào và trỏ thành Thế chiến thứ Ba. Ông có đường giây điện thoại bí mật có thể nói chuyện thẳng với Hà Nội trong suốt thời gian ông cầm quyền. Một điều ngạc nhiên khác đã được tiết lộ là nỗi ám ảnh của TT. Johnson là Khe Sanh có thể trợ thành Điện Biên Phủ của Hoa Kỳ  Năm 1967 đã có đề nghị dùng bom Nguyên tử để kết thúc cuộc chiến, nhưng đã không thành. Năm 1969, ông quyết định không tái tranh cử cũng vì sự bế tắc của chiến tranh VN.
TT. Nixon thắng cử nhờ chương trình tranh cử chấm dứt chiến tranh VN, nên khi nắm quyền vào năm 1969, ông phải thực thi lời hứa của ông là chấm dứt chiến tranh bằng mọi giá, và người thay mặt ông làm công việc này là ngoại trưởng Henry Kissinger. Vụ Watergate thực sự đã khiến vị TT. thứ 37 của Hoa Kỳ điên đầu bị buộc phải từ chức và  tất cả những gì ông hứa với TT. Thiệu trước Hòa đàm Paris đã không thể thực hiện được. Kết quả là sự sụp đổ miền Nam VN.

+Cuộc chiến tranh dưới mắt của các diễn giả
Đề tài thứ hai nói về Mặt Trận Ia Drang  (Sông Drang) năm 1965 đánh dấu sự tham chiến trực tiếp và toàn diện của người Mỹ vào Việt Nam, Người điều hợp là cựu phóng viên chiến trường của hang thông tấn UPI, Joe Galloway, đồng tác giả cuốn tiểu thuyết “We Were Soldiers”, với Trung tướng Hal Moore. Tiểu thuyết này đã được làm thành phim nói về mặt trận Ia Drang mà phía VNCH vẫn gọi cuộc hành quân Thần Phong. Tài tử nổi tiếng Mel Gibson thủ vai tướng Hal Moore, Berry Pepper đóng vai Joe Galloway, và diễn viên Đơn Dương đóng vai Trung tá Việt Cộng Nguyễn Hữu An. Thuyết trình viên Vince Cantu là bạn đồng học với Galloway, hai người trẻ vừa ra khỏi trung học thì bị đưa sang chiến trường VN. Galloway vói tư cách phóng viên, Cantu là lính bộ binh. Họ gặp nhau tại chiến trường Drang đầy máu,,lửa, bùn, đạn, bom Napal, và xác chết. Họ đã tự hỏi không hiểu tại sao họ lại phải có mặt ở đây? Theo các diễn giả thì 90% lính Hoa Kỳ chiến đấu tại VN là những người bị bắt quân dịch. Dù kết quả trận Sông Drang là trên 1,400 Cộng quân bị giết, khoảng 130 binh sĩ Hoa Kỳ tử thương, dưới mắt họ thì cuộc chiến tranh VN ngay từ ngày đầu là quá tàn khốc và “vô nghĩa” vào theo họ “không thể nào chiến thắng được.  
Các tham luận viên khác như cựu Trung tá Bruce P. Crandall, người từng được tặng huy chương danh dự vì công trạng trong trận đánh Ia Drang, Bác sĩ Tone Johnson Jr. đến từ Corpus Christi, Texas có mặt trong trận Sông Drang mà 31 năm sau, khi ông trở về từ VN đi học trở thành bác sĩ mới được nhận Huy chương đồng. Walter Joseph Marn, với huy chương Danh dự cao quý nhất vì những công trạng của ông trong cuộc chiến tranh VN cũng phát biểu nguời Mỹ thua cuộc chiến tranh VN vì những quyết định sai lầm về chiến thuật, chiến lược, và nhất là dùng lính động viên nên họ không có đủ ý chí để chiến đấu.
Khi các tham luận viên đặt mốc chiến tranh VN từ năm 1965, thì họ đã cố tình bỏ đi một giai đoạn quan trọng của lịch sử, đó là cuộc chiến chống cộng của người VN nếu không muốn nói từ năm 1945, sau đệ nhị thế chiến thì ít nhất cuộc chiến bắt đầu từ năm 1959, khi CS Bắc Việt đổ quân vào miền Nam qua đường mòn HCM. Miên Nam VN đã chiến đấu với sự giúp đỡ về súng đạn,huấn luyện của Hoa Kỳ và khi quyết định đổ quân vào miền Nam mà không được sự đồng ý của TT. Ngô Đình Diệm, họ đã lật đổ ông và đưa quân tói VN. Trong suốt 3 ngày hội nghị, họ không hoặc rất ít nhắc nhở đến quân lực VNCH, những người nắm vai trò then chốt, từng chiến đấu nhiều năm trước và sau khi quân đội có mặt tại VN khiến người ngồi nghe có cảm tưởng đây là cuộc chiến tranh giữa họ với Cộng Sản Bắc Việt. Đặc biệt ngôn từ của họ khiến cho người nghe rất dễ hiểu lầm. Như  “chúng ta xâm lăng VN” (we invaded VN), và đi xa hơn nữa, trong chiến tranh VN có những cuộc hành quân truy quét quân CS tại đất Lào và Cam Bốt mặc dầu được sự đồng ý của hai quốc gia trung lập này, họ vẫn gọi là xâm lăng cả Lào lẫn Cambodia” ( we invaded Lao and Cambodia ).
Dân biểu Hubert Võ đợc một bài phát biểu dài 5 phút nói về kết quả của cuộc chiến tranh khiến Việt Nam bây giờ vẫn còn là một quốc gia với chế độ độc đảng không có tự do, nhân quyền cho người dân, và theo ông, cách vinh danh các cựu chiến binh tốt nhất là việc công nhận lý tưởng của cuộc chiến tranh mà những người này đã hy sinh cho.

+“SAU CUỘC CHIẾN"
Đề tài “Sau Cuộc chiến” với hai diễn giả bà Grace Liem Galloway, một phụ nữ Việt Nam là vợ của tác giả “ We Were Soldiers”, Joe Galloway trình bày về những công tác từ thiện mà bà tham gia nhằm giúp các cựu chiến binh gặp khó khăn và những người nghèo.Bà Grace Galloway là y tá phục vụ tại nhà thương Củ Chi.  Ông Jan Scruggs, tác gỉa của bức tưòng Vietnam Wall, được mệnh danh là “bức tường chữa lành” (The Wall that heels) nói về nỗ lực của ông và những đóng góp của bức tường trong việc xoa dịu những đau khổ, uất ức cho cựu chiến binh VN.

+KHÔNG HỐI TIẾC, CHỈ THÔNG CẢM
Bái nói chuyện kéo dài hơn 2 tiếng đồng hồ với cựu ngoại trưởng Henry Kissinger tựu chung ông giải thích khi ông vào cuộc, chiến tranh đã xảy ra nhiều năm và không có lối thoát, vai trò của ông là giúp TT. Nixon chấm dứt chiến tranh Việt Nam và ông đã làm tất cả những gì ông có thể làm được để hoàn thành nhiệm vụ này. Nhìn lại thì ông công nhận Hoa Kỳ đã không thắng vì đã có  những sai lầm về chiến thuật, chiến lược nhưng riêng ông, ông  “không có gì để hối tiếc mà trái lại rất hãnh diện về những gì ông đã phục vụ dất nước”
Trước đó một nhóm sinh viên trẻ khoảng trên 30 người đã cầm những bích chương viết bằng tay gọi Henry Kissinger là “tội phạm chiến tranh” (war criminal) và “Ông phải ra  tòa, không thể có mặt tại khuôn viên Đại học” (you should be on trial, not on campus”. Theo cô Cindy Beringer, một người trong nhóm biểu tình phát biểu với người viết bài: “Ông ta đã làm ra biết bao nhiêu cuộc chiến tranh giết hại lương dân”
Buổi thuyết trình của cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger được dành 15 phút để nhận câu hỏi. Ông Sherman Stephe thuộc nhóm Swift Vets là một tổ chức gồm các cựu chiến binh Hoa Kỳ tiếp tục tranh đáu cho lý tưởng của cuộc chiến tranh VN đặt câu hỏi đầu tiên là vì sao Hoa Kỳ biết rõ CS bắc Việt dùng đất Lào và Cambochia làm căn cứ để thực hiện chiến tranh, nhưng mãi đến năm 1972 mới tấn công họ? Kissinger đã trả lời vì hai quốc gia này trong thời chiến là những nước Trung lập nên Hoa Kỳ phải tôn trọng.
Bà Genie Nguyễn thuộc hội Voice of Vietnamese American đến từ Hoa Thịnh Đốn hỏi vì sao Hoa Kỳ ký hiệp ước trao đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng vào năm 1974? Ông Kissinger trả lời là Hoa kỳ tôn trọng chủ quyền của Nam Việt Nam nên không thể và không hề làm việc này. Ông cũng không thấy một văn kiện nào đã được ký kết.
Ông Đỗ Phúc thuộc Cộng Đồng Ngưòi Việt Hoa Kỳ đặ hỏi vì sao Hoa Kỳ không giữ lời hứa với TT. Thiệu là nếu CS vi phạm Hiệp định Paris, Hoa Kỳ sẽ can thiệp khiến cho miền Nam VN thua và sau đó hàng trăm ngàn người đ4 bị tù đày, riêng cá nhân ông từng bị 10 năm tù trong nha tù CS? Ông Kissinger trả lời:” đó là những ngày tháng đen tối nhất trong cuộc đời tôi và tôi xin chia sẻ sự cảm thông sâu xa nhất (deepest sympathy)  của tôi đối với ông và người dân Nam Việt Nam vì hoàn cảnh chúng tôi không thể giữ lời hứa của mình”

+Cuộc chiến tranh tại nhà  (Mỹ) và Cuộc chiến Truyền Thông
Ngày thứ hai của Hội nghị với 3 đề tài: “Cuộc chiến tại nhà”, “Của Truyền Thông” và “Sức Mạnh Của Một Tấm Hình” với các diễn giả nổi tiếng về quan điểm phản chiến của họ như Tom Hayden, chồng cũ của Jane Fonda, thủ lãnh của nhóm sinh viên phản chiến là một trong những người tổ chức các cuộc biểu tình đông đảo có chưng cờ Việt Cộng và cờ Mặt trận Giải phóng miền Nam, đã gây đổ máu như cuộc biểu tình đông hàng 100 ngàn người tại Đại học Ken State tại Chicago, Marylin Young, tác giả của cuốn sách “Vietnam Wars 1945-1990” cũng là tác giả nổi tiếng phản chiến. David Maranis, ký giả của báo Washington Post, từng đoạt giải Pulitzer cho cuốn sách viết về tiểu sử của TT. Clinton. Nhà viết truyện phim đoạt giải Pulitzer kiêm diễn viên Robert Schenkkan. Hai nhà báo kiêm tác giả truyện phim “Vietnam: Ten Thousand Day War” Petter Arnett và Dan Rather của truyền hình CBS, hai nhà nhiếp ảnh đoạt giải Pulitzer David Kennerlly, và Nick Út của hãng thông tấn AP, mà hình của họ được nhóm phản chiến dùng để phê phán cuộc chiến tranh Việt Nam.

+Cơ nguy của một cuộc nội chiến
 Những trình bày và lý luận của những người nói trên không có gì là mới mẻ so với những bài tham luận trong ngày hôm trước. Tuy nhiên, phần nói về sự hình thành và phát triển của phong trào phản chiến có nhiều điều khiến người tham dự phải suy nghĩ. Để huy động một số đông đảo binh sĩ cung ứng cho chiến trường, chính phủ TT. Johnson đã phải bắt quân dịch khiến cho giới trẻ bất mãn đứng lên chống chiến tranh, nhưng những cuộc tranh đấu khởi đầu  từ những cuộc biểu tình đòi dân quyền của Mục sư Martin Lutherking. Việc bắt quân dịch những người Mỹ da đen lúc bấy giờ càng gây thêm công phẫn vì kết quả số người da đen bị bắt đi lính tỷ lệ cao hơn người da trắng. Vào thập niên 1960 thì sự kỳ thị chủng tộc tại Hoa Kỳ còn rất gay gắt. Người da đen được coi như những công dân hạng hai. Họ bị cấm đến những nơi người da trắng tụ tập. Có những nhà hàng vẫn còn treo bảng không tiếp chó và người da màu “No dogs and colors”, người da đen không được dùng chung phương tiện chuyên chở công cộng với người da trắng như xe buýt, xe điện…Do đó những lời kêu gọi chống chiến tranh VN như: “tại sao chúng ta phải chiến đấu cho tự do, độc lập của Nam Việt Nam ở một n ơi xan xôi nào đó, không liên hệ gì vói chúng ta, trong khi chính chúng ta đang không có quyền tự do và bị đối xử phân biệt ngay tại Hoa Kỳ ?”. Sau đó nhóm chống chế tạo vũ khí nguyên tử và chất độc da cam, rồi nhóm phụ nữ đòi bình quyền, nhóm văn nghệ sĩ, thể tháo gia nhập cuộc, rồi nhóm cựu quân nhận phản chiến trở về từ VN trong đó có mặt của đương kim Ngoại trưởng Kerry, cộng thêm sự hỗ trợ nhiệt tình của báo chí, cơ quan truyền thông, truyền hình, khiến những năm cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70, nước Mỹ đã đứng trước cơ nguy của một cuộc nội chiến. TT. Johnson không dám tái tranh cử và quốc hội do đảng Dân chủ nắm đa số lúc đó đã bị áp lực không cưỡng nổi là bỏ phiếu chấm dứt chiến tranh Việt Nam và bỏ rơi hoàn toàn miền Nam Việt Nam. Tom Hayden đã kết luận:”chính chúng tôi đã chấm dứt cuộc chiến tranh (We end the War”.
Peter Arnett và Dan Rather phân bua: “không giống như nhiều người nói: báo chí Hoa Kỳ khiến chúng ta thua!” 

+Đạo Diễn Ken Burns với Phim “The Vietnam War” và cuộc tiếp xúc ngắn.
Buổi chiều hội trường gần 1,000 chỗ chật nứt, có nhiều người phải đứng để xem đoạn phim đầu của cuốn phim The Vietnam War do hai nhà đồng Sản Suất và Đạo diễn Ken Burns và Lynn Novick. Nếu không có gì thay đổi vào giờ chót thì đây là một cuốn phim tài liệu được sản suất theo lối cổ điển kiểu như phim “Last Days In Vietnam” và sẽ có nhiều cảnh được diễn lại (reanactment). Theo lời hứa của ông Ken Burns, phim The Vietnam War sẽ phản ảnh mọi phía tham dự vào chiến tranh Vietnam, đoàn làm phim của ông đã về VN nhiều lần để phỏng vấn những người VN trong nước và c ả những người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên ông cũng nói trước rằng chắc chắn phim của ông sẽ không khỏi gây nhiều tranh cãi vì đó là một điều tự nhiên của một cuộc chiến tranh dài bao gồm nhiều quan điểm khác nhau.
Người viết có hân hạnh được nói chuyện với nhà sản suất Ken Burns trong buổi tiếp xúc ngắn để chia sẽ với ông Burns về phim VIETNAMERICA, cuốn phim gây được nhiều tiếng vang trong cộng đồng Việt và Mỹ trong năm qua và sắp đưọc trình chiếu tãi toà nhà Quốc hội Hoa Kỳ vào ngày 12 tháng 5 sắp tới. Ông Ken Burns tỏ vẻ ngạc nhiên khi chúng tôi nói về hàng ngàn những ngôi mộ của thuyền nhân tại bờ biển của các quốc gia Đông Nam Á. Ông nói sẽ liên lạc với chúng tôi để tiếp tục câu chuyện.

+Khi ông Ngoại Trưởng khóc
Buổi tối của ngày thứ hai cuả Hội nghị là buổi nói chuyện của Ngoại trưởng John Kerry với bài nói chuyên ca tụng những hợp tác của chính quyền CSVN và những thay đổi của họ từ khi Hoa Kỳ và Việt Nam tái lập bang giao năm 1995 cho đến nay. Khi nhắc đến buổi điều trần gian dối mà ông đã làm tại Quốc hội năm 1971. Ông đã trả huy chương và khai rằng quân đội Hoa Kỳ sang VN giết trẻ em, phụ nữ, là những thành phần nghiện ngập ma tuý…đã gây sự căm phẫn trong lòng các cựu chiến binh Hoa Kỳ, ông Ngoại trưởng đã nghẹn lời muốn khóc. Ông trần tình: “đó là những điều tôi không vui khi phải làm trong những ngày đó và cả cho đến bây giờ khi tôi nhắc lại. Nhưng tôi thật vui và hãnh diện vì bây giờ tôi đã trở lại Việt Nam  để làm những điều tốt cho đất nước này”.

+“Chúng Tôi Chiến Đấu Cho Cái Gì?” và “Một Bắt Đầu Mới”
Ngày hội thảo cuối với các đề tài “Kinh Nghiệm Của Chiến Sĩ Ngoài Tuyến Đầu”, “ Một, Hai, Ba, Chúng Ta Chiến đấu Cho Cái Gì?” của hai nhạc sĩ, ca sĩ nổi tiếng với những ca khúc phản chiến được hát trong các cuộc biểu tình chống chiến tranh VN; Country Joe McDonald, Peter Yarrow. Phòng hội thảo đầy xúc động, người ta nắm tay nhau để cùng hát bài: “Những đóa hoa đã mất đâu rối” (Where All Have The Flowers Gone) 
Sau đó đề tài “Quan Hệ Mới Giữa Hoa Kỳ Và Việt Nam, Một Sự Bắt Đầu Mới” do Đại sứ Việt Công Phạm Quang Vinh trình bày. Với tiếng Anh khá rõ rang, mạch lạc, Phạm Quang Vinh mở đầu bài diễn văn bằng cách nhắc lại Hoa Kỳ và VN đã có sự hợp tác từ thời HCM. Sau thế chiến thứ hai HCM đã viết 7 bức thư tới TT. Truman để xin hợp tác và giúp đỡ, nhưng không được. Sau đó là cuộc chiến tranh dài và nay sự hợp tác đã được bắt đầu, mỗi ngày, mỗi tốt đẹp, và chặt chẽ hơn. Ông xác nhận tháng 5 này TT. Obama sẽ đến viếng thăm VN và để khánh thành Đại học Fulll Bright ngay tại Sàigòn. Đại sứ Vinh khoe tiếp rằng Việt Nam hiện chỉ còn 5% người nghèo, nhưng lại tuyên bố rằng   từ nay đến năm 2020 thì VN sẽ phấn đấu để mức thu nhập bình quân GPA của người dân có thể lên đến từ 2,000 – 3,000 đô la một năm. Người nghe không hiểu những người trong số 95% mà ông ta gọi không nghèo thì lợi tức của họ là bao nhiêu?
Ông Vinh còn hứa hẹn tòa Đ ại sứ của ông sẽ làm việc gần gũi với những người Việt sinh sống tại Hoa Kỳ (?) và các cộng đồng bạn.
Đã có người Việt trong hội trường không kềm nổi đã giận dữ la lên:” Hãy ngừng nói láo! ( Stop lying!).
Trong khi đó bên ngoài đoàn biểu tình của gần 200 người Mỹ gốc Việt đến từ 5 thành phố: Dallas, Arlington, San Antonio. Austin và đông đảo nhất từ Houston la lớn những khẩu hiệu bằng tiếng Anh: “ Freedom for VN”, “Release All Conscience Prisonners”, “Down with the Communist”, “No Communism = No Vietnam War”, “ Thank You America”, “ We honor Vietnam Veteran”…và họ không chỉ vinh danh bằng khẩu hiệu, họ đem theo cả một vòng hoa tươi đến trước bức tường “Vietnam Wall” đang được triển lãm bên hông thư viện LBJ và cúi đầu cầu nguyện.
Trước đó, khi đoàn biểu tình mới đến, hai người con gái của TT. Johnson là  bà Lucie Baines Johnson và Linda Baines Johnson cùng với chồng là ông Charles Robb đã đến hỏi lý do về sự có mặt của đoàn biểu tình, anh Tịnh Độ, Tổng thư ký của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston và Vùng Phụ Cận là trưởng Ban Tổ Chức đã thay mặt đoàn biểu tình trả lời: “chúng tôi đến đây để vinh danh các cựu chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến tại VN và đòi hỏi Phạm Quang Vinh đại diện chính phủ CS phải cải thiện nhân quyền, thả các tù nhân lương tâm, chấp dứt việc đàn áp tôn giáo, báo chí và những người bất đồng chính kiến”. Bà Lucie và Linda Johnson rất cảm động. Hai bà đã cùng đứng với đoàn biểu tình trước bức tường để tham dự nghi thức truy điệu. Đoàn biểu tình sau đó đã rời sang hành lang đi vào thư viện để tiếp tục hát và hô to các khẩu hiệu cho tới khi buổi nói chuyện của Vinh chấm dứt.
Cũng nên nhắc lại là khoảng 11 giờ sáng, đoàn biểu tình cũng đã kéo đến khách sạn của công ty AT & T, nơi mà Vinh thết đãi bữa trưa dành cho đại diện các công ty tại Austin với mục đích kêu gọi họ đầu tư vào Việt Nam. Đoàn biểu tình đã chạm trán với Đại sứ Vinh. Có người đã ghi nhận ông Đại sứ VN đã châu mày khó chịu, trước khi cúi đầu đi vào nhà hàng. Chắc chắn bữa trưa ông Đại sứ đã không vui và những lời giải thích của ông với thực khách cũng không dễ dàng cho câu hỏi vì sao?

+NHỮNG BÀI HỌC
Buổi thuyết trình cuối với đề tài “Những Bài Học” do ông Bob Kerry, Thượng Nghị sĩ của tiểu bang Nebraska, từng chiến đấu tại VN những năm 1966-1969, bị thương và được tặng Huy chương Cao quý của Quốc hội Hoa Kỳ, Theo ông Kerry thì người Mỹ chưa học được gì từ chiến tranh Việt Nam dù rằng đất nước này trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh tiếp theo đó. Riêng ông, ông chỉ muốn phục vụ cho hoà bình, vì theo ông làm hoà bình khó hơn làm chiến tranh nhưng kết quả tốt hơn rất nhiều. Ông Charles Robb, cựu chiến binh Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ từng tham chiến tại VN và được tặng huy chương đồng.Sau khi giải ngũ, ông tham chính và từng giữ chức vụ Thượng Nghị sĩ của tiểu bang Virginia ông là chồng của bà Linda Baines Johnson, con gái lớn của TT. Johnson, Ông Robb xác định lại điều mà Hoa Kỳ cần học; đó là trước khi vào một cuộc chiến tranh nào phải có đủ hai điều kiện; đó là tư lượng sức xem mình có thể thắng hay không? Và điều thứ hai là phải ủng hộ quân đội của mình. Trong chiến tranh VN người Mỹ có thừa sức để thắng, nhưng vì chúng ta đã không hỗ trợ quân đội của chúng ta từ hậu phương, đến  truyền thông, cả đến sự an vui khi trở về của cựu chiến binh VN, khiến chúng ta đã không thể thắng. Riêng cựu Đô đốc Hải quân Navy Seal William MCraven, người hùng của chiến tranh Vùng Vịnh, A phú Hãn và Iraq thì quân đội Hoa Kỳ đã học được rất nhiều bài học của chiến tranh VN, từ cách huấn luyện, hành quân đến quản lý quân đội. Những chiến thắng của Hoa Kỳ trong các mặt trận này chính là đã rút ra những bài học xương máu từ chiến tranh VN. Sau cùng, Tiến sĩ Mark Lawrence, Giáo sư môn Sử của Đại học UT thì chiến tranh Việt Nam cho đến hôm nay vẫn còn gây nhiều tranh cãi và chúng ta chưa có thể học hết được. Ông cám ơn các diễn giả đã đến chia sẻ kinh nghiệm để có thể tiếp tục thảo luận về chiến tranh VN sâu xa hơn.

+Dư luận bên ngoài Hội Nghị
Tuy được gọi là Hội Nghị Thượng Đỉnh nhưng Ban Tổ chức đã cố tình sắp xếp những đề tài thảo luận và diễn giả nghiêng về phía phe phản chiến. Nhiều cựu quân nhân Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam có khuynh hướng ủng hộ cuộc chiến tranh chống xâm lăng Bắc Việt đã không được mời, do đó dư luận bên ngoài không mấy thuận lợi cho Ban Tổ chức. Nhật báo duy nhất và lớn nhất tại Austin Austin American Stateman đã liên tiếp nhiều ngày đăng những bài tham luận của gìới hữu khuynh, những bài phỏng vấn những người không được mời hoặc từ chối không muốn đến vì nghị trình thiên tả, hoặc vì sự có mặt của một số tên tuổi như Henry Kissinger, Tom Hayden, và ngay cả đương kim Ngoại trưởng John Kerry. Nhóm SwiftVets đã in 200 cuốn sách phản bác những luận điệu phản chiến của một số diễn giả để phát không cho những người tham dự. Sự  có mặt của Đại sứ Việt cộng Phạm Quang Vinh được dành riêng cho một đề tài, đã gây phẫn nộ cho không riêng gì người Mỹ gốc Việt mà còn gây khó chịu cho một số đông đảo các cựu chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến tại VN. Một điều khác thường nữa là trong suốt 3 ngày hội nghị, chỉ có hai bài tham luận đưọc cho người tham dự đặt câu hỏi; đó là bài nói chuyện của ông Henry Kissinger và của hai phóng viên nhiếp ảnh David Kennerlly và Nìck Út với đề tài “Sức mạnh của một tấm hình”. Vì thế đã có người gọi Hội nghị này là Hội nghị  một chiều “One way Summit”
Nhìn lại 3 ngày, Hội Nghị Thượng Đỉnh đã diễn ra không giống như lời Ban Tổ chức hứa hẹn là Hội nghị bao gồm cả bạn lẫn thù, cùng ngồi xuống để bàn thảo thẳng thắn mọi vấn đề, ngược lại Hội nghị đã tiếp đón cựu thù như thượng khách, loại trừ bạn như kẻ thù. Một điều tiến bộ của giới phản chiến cần được ghi nhận, đó là họ vinh danh những cựu chiến binh từng đến Việt Nam giúp miền Nam đấu tranh cho tự do mà trước đây, họ đã nhục mạ  bằng cách gọi là những kẻ tội phạm, giết trẻ em, và dân lành khiến người chiến binh trở về uất ức vì bị ngược đãi bao năm qua. Riêng bài học mà ngoại trưởng Kerry đã nhắc lại nhiều lần trong bài nói chuyện của ông là:” khi đến bất kỳ đất nước nào, muốn thắng họ, phải hiểu lịch sử và văn hoá của họ, và phải nghĩ giống như họ nghĩ”. Liệu ông và TT. Obama đến VN vào tháng 5 này đánh dấu một sự hợp tác toàn diện sau 21 năm nối lại bang giao, ông và Tổng Thống  Hoa Kỳ có thật  đã hiểu CSVN đang nghĩ gì, làm gì, hay chỉ là vấn đề nói rất dễ làm thì rất khó?

+Một đoá hồng cho cộng đồng người Việt
Để kết thúc bài tường trình này, người viết xin ghi nhận sự nhiệt tình và tinh thần kỷ luật cao của những người Việt Nam tham gia cuộc đấu tranh  trước Hội nghị Thượng Đỉnh vừa qua. Khoảng trên 10 người có vé vào bên trong tham dự các buổi tham luận. Có những người đến từ các thành phố thuộc các tiều bang xa như California, Washington DC…Riêng Cộng đồng Houston có ông Chủ Tịch Phạm Quốc Anh, Cô Phạm Thu Thảo thuộc Ban Điều Hành và nha sĩ Chu Văn Cương, Ban Cố vấn có mặt suốt 3 ngày và không hề bỏ qua bất kỳ cuộc hội thảo nào. Cuộc đấu tranh cũng đã được phối hợp chặt chẽ và nhịp nhàng giữa các cộng đồng người Việt khắp nơi, với các cộng đồng cựu chiến binh Hoa Kỳ, với truyền thông Việt Nam và Hoa Kỳ nên đã gây được tiếng vang nhiều mặt và lấy được cảm tình trong dư luận truyền thông cũng như đại chúng Việt Mỹ. Chúng tôi ghi nhận sự có mặt của nhà báo lão thành Nguyễn Đạt Thịnh và phu nhân, bà Ngọc Ân và người thu hình của đài Hồn Việt TV, bà Thu Nga và phu quân của Đài SBTN Dallas và đài 1600 AM Dallas, phóng viên Michael Hòa của Đài Sàigòn TV, ông bà Dương Phục, Thanh Thuỷ của đài Sàigòn Houston 900AM Radio, diễn đàn Paltalk,…
Nhật báo Austin American Satesman đã đăng những bài tham luận phản đối sự phiếm diện của Hội Nghị, đặc biệt là bài tham luận của Giáo sư Robert F. Turner, và bài cậy đăng có trả tiền chiếm nguyên trang của Cộng Đồng Liên Bang Hoa Kỳ thuộc nhóm Bs. Võ Đình Hữu và Bs. Đỗ Văn Hội với sự đồng ký tên của khoảng 40 tổ chức cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ và các quốc gia khác như Úc, Đức, Canada, đặc biệt là Đại diện các Tôn giáo và một số tổ chức dân sự trong nước. Vì thế nên dư luận được hiểu rõ lý do của sự phản đối của cộng đồng người Việt và khi đoàn biều tình của ngưòi Mỹ gốc Việt suất hiện tại khuôn viên của Thư viện LBJ, họ đã nhận được cảm tình của người xem và nhân viên cảnh sát dày đặc nhưng họ chỉ giữ an ninh trật tự chứ không can thiệp dù lắm khi khí thế lên cao, đoàn biểu tình đã hô những khẩu hiệu thật lớn. Và mặc dù được biết tin trong một thời gian ngắn, nhưng cộng đồng Người Việt Quốc Gia Houston và Vùng Phụ Cận với trưởng Ban Tổ chức là anh Đỗ Tịnh, Tổng Thư Ký Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston, đã nhanh chóng cùng với ông Chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Dallas và Vùng Phụ Cận Phạm Quang Hậu liên lạc và phối hợp với các cộng đồng bạn để mời tham gia. Một số đảng phái cũng tham gia tích cực như Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Phục Hưng, Việt Tân, …và hình ảnh của cuộc biểu tình đã được đăng trên trang nhất của báo Austin American Statesman với một bài tường trình đầy đủ trên số báo ngày thứ sáu 29 tháng 4 vừa qua. Một bông hồng cho những người đã hy sinh thì giờ, phương tiện và tài chánh để tham gia vào việc nói lên sự thật và chính nghiã cho người Việt hải ngoại và cho đồng bào thấp cổ, bé miệng của chúng ta tại quê nhà.

*Triều Giang
          (05/2016)