Wednesday, May 24, 2017

Thăm Chiến Trường Xưa - MX Phạm Tiến


Đã 5 giờ chiều, chúng tôi ghé vào tiệm ăn trước khi vô Huế. Trên đường về, lòng tôi thanh thản, vui sướng vì ước nguyện tôi đã thực hiện, 


Kỳ Đài Huế
Đã từ lâu tôi có một ước nguyện là trở lại thăm chiến trường xưa của vùng hỏa tuyến, nơi mà tôi đã tham dự những trận chiến ác liệt nhất của mùa hè 1972, nhớ lại từng bước chân đi, những tình cảm trong hoàn cảnh mà cái sống và cái chết gần nhau trong gang tấc, sau đó được thắp nén nhang cho các đồng đội đã nằm xuống nơi đây vì lý tưởng, cầm súng chiến đấu để bảo vệ miền Nam tự do trước đây.
Chiếc máy bay Air Bus A340 rời khỏi phi đạo của phi trường Seattle vào lúc 2 giờ sáng, trễ mất 1 tiếng đồng hồ. Đáng lý ra chuyến này khởi hành lúc 1 giờ sáng ngày thứ Tư 28 tháng 2 năm 2007.
Ngồi trên máy bay tâm trạng của tôi không sao diễn tả được, niềm vui pha lẫn những xót xa cho cuộc hành trình về thăm lại chiến trường xưa nơi vùng hỏa tuyến. Vui vì sẽ được đến những nơi mà mình ước muốn, chắc chắn sẽ không dằn được sự xúc động với hình bóng những người bạn đồng đội xông pha lằn tên mũi đạn dù thời gian đã hơn 35 năm trôi qua nhưng trong ký ức vẫn như thuở nào.
Sau 13 giờ trên không trung, máy bay đáp xuống phi trường Đài Loan. Hành khách về Việt Nam phải đợi tại phòng khách gần 2 giờ để sau đó lên chiếc máy bay Airbus 321 của hảng hàng không quốc doanh Việt Nam và rời phi đạo vào lúc 8 giờ sáng (giờ Đài Loan).
Ngồi trên máy bay quốc doanh Việt Nam, lòng tôi phập phòng, chẳng chút an tâm, nhưng không còn cách lựa chọn nào khác nên đàng phó thác cho trời đất. Đang vẩn vơ suy nghĩ mông lung, chợt có lệnh cho biết phi cơ chuẩn bị đáp xuống phi trường Nội Bài Hà Nội. Khi chiếc phi cơ dừng lại, hành khách thở phào, những ưu tư trên đường bay không còn ám ảnh trong tâm trí.
Tôi thuê xe taxi với giá 10 đô la từ phi trường về khách sạn ở phố cổ. Tôi ở lại đây 2 ngày, và sau đó mua vé đi “tour” thăm vùng đất, nơi mà cách đây 36 năm, vào lứa tuổi đôi mươi, trước sự xâm lăng của cộng sản, xếp bút nghiên, khoác chinh y, tôi cùng các đồng đội cầm súng để bảo vệ miền Nam thân yêu. Lần đầu tiên không có kinh nghiệm, tôi cứ nghĩ rằng đi “tour” với một chiếc xe đại khái như xe bus ở đây, nhưng người hướng dẫn đã đưa tôi tới một chiếc xe đò từ Hà Nội vô Đông Hà. Trên xe cũng có mấy người khách ngoại quốc, tôi thầm nghĩ là Tây ba lô. Xe đò chật chội, ngột ngạt, nên chuyến đi thật mệt mỏi. Tài xế giăng võng ngủ cả trên xe. Rời Hà Nội lúc 7 giờ tối và đến Đông Hà 6 giớ sáng ngày hôm sau. Đi vào ban đêm, tôi không ngắm được hết cảnh vật suốt lộ trình, cơn mệt ru tôi ngũ đến khi người phụ tài đánh thức tại bến.
Người hướng dẫn du lịch đợi trước cửa xe, anh ta đưa tôi vào một nhà hàng để dùng điểm tâm và thưởng thức cà phê
- Tôi tên Cường, phụ trách tuyến du lịch ở Đông Hà, khoảng 8 giờ mới có xe đến rước.
Thị xã Đông Hà so với thời gian 36 năm về trước có nhiều thay đổi. Nhớ lại khi ra trường tôi được thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên, bổ sung ra hành quân tạm trú ở tiền trạm trong căn cứ Đông Hà, ngày hôm sau theo xe tiếp tế đến Cùa. Từ sân bay Mai Lộc, trực thăng chở tới các bộ chỉ huy Tiểu đoàn bảo vệ căn cứ hỏa lực như Holcom, Sarge hoặc đỉnh Bá Hô. Trong cuộc chiến bảo vệ tự do, thị xã Đông Hà gần vùng phi quân sự về hướng Bắc, và là điểm tiếp liệu vận chuyển đến Cam Lộ, Mai Lộc hoặc xa hơn nữa là Khe Sanh. Thị xã có 2 khu phố buôn bán sầm uất, được gọi là thành phố của lính vì có sự hiện diện các đơn tổng trừ bị như Dù, TQLC hoặc địa phương như Sư đoàn 1, Sư đoàn 3, Thiết giáp… Sau ngày cưỡng chiếm miền Nam 1975 đến nay, đã 32 năm qua, hai khu phố trở thành những khách sạn, nhà hàng, buôn bán phục vụ du khách, chủ nhân toàn là cán bộ, quan chức của nhà nước Xã hội Chủ nghĩa, chỉ rất ít người dân cố cựu còn ở thị xã thôi.

QL9 Đông Hà.
Sau một giờ ngồi chờ ở nhà hàng, tôi bước lên một chiếc xe du lịch loại 25 chỗ ngồi trông rất khang trang. Trên xe hầu như hoàn toàn người ngoại quốc, đa số là những cựu chiến binh Mỹ đã từng chiến đấu ở Ðông Hà và Khe Sanh trước 1973. Ðây là tour đi thăm viếng Gio Linh vùng DMZ (Vùng Phi quân sự trước năm 1973), và cầu Hiền Lương, rồi trở về quốc lộ 9, Khe Sanh, chỉ có tôi là người du khách Việt Nam độc nhất trong cuộc hành trình này.
Khi xe vừa lăn bánh trên cầu Ðông Hà, lòng tôi dâng lên một niềm xúc động mãnh liệt, tại đầu cầu này vào đầu tháng Tư của 35 năm trước, một Trung đội của Tiểu Ðoàn 3 TQLC đã dùng hoả tiển M.72 bắn chận không cho chiến xa T.54 vượt qua cầu và Tiểu Ðoàn 3 đã giữ vững Thị xã trong tầm đại pháo 130 mà cộng sản bố trí ở bờ Bắc sông Bến Hải.

Thị Xã Đông Hà.
Tới cầu Hiền Lương xe quay lại trên quốc lộ 9, người dân sống dọc theo đường hầu như toàn là người vùng cao. Dân sống rất cơ cực, nghèo đói. Khi xe dừng tại điểm nghỉ chân, một số trẻ em tuổi độ 6 tới 12 chạy tới xin tiền. Tôi hỏi một số người dân bán hàng rong, họ cho biết
- Chúng tôi sống vào các cây cà phê, nhưng làm sao đủ nên phải buôn bán thêm cho những khách du lịch đi thăm viếng, Cuộc sống chúng tôi rất khổ cực, thiếu thốn.
Một người khác hỏi tôi:
- Ồ! Ông là người Việt Nam, sao ông cũng đi tham quan à!
Tôi trả lời:
- Tôi đi tìm lại hình ảnh bạn bè ngày xưa của tôi.
Tôi tự nhủ chắc hiếm người Việt Nam từ hải ngoại về đi tour trên lộ trình này.
Những người bán hàng nói tiếng Mỹ rất giỏi, một lẽ đơn giản là khách đi tour là khách ngoại quốc và cựu chiến binh quân đội đồng minh trong cuộc chiến chống cộng sản.

Cầu Hiền Lương.
Khi xe tới Khe Sanh, khách du lịch được đưa vào thăm căn cứ do họ tạo dựng. Thật ra khi tốt nghiệp mãn khóa tôi không có tham dự ở chiến trường này nên tôi chẳng có khái niệm hoặc hình ảnh nào về vùng đất ở đây. Họ đã xây một bảo tàng viện về chiến trường Khe Sanh, cho tu bổ lại những lô cốt, vài khẩu pháo 105 và 155, một chiếc trực thăng UH1 và một chiếc chinook H.46. Sau gần hai giờ quanh quẩn, xe chở tới nhà hàng cách thung lũng Khe Sanh nửa giờ lái xe để dùng bữa ăn trưa mà du khách phải trả tiền. Sau đó xe quay trở ngược về Huế.
Xe rời quốc lộ 9 xuôi về Nam trên quốc lộ 1, niềm xúc động dâng lên trong lòng tôi, những hình ảnh trước kia từ từ hiện ra trước mặt tôi.
- Căn cứ Ái Tử, thấp thoáng dãy đồi phía xa là căn cứ Phượng Hoàng (Pedro), nơi mà Tiểu Ðoàn 6 Thần Ưng TQLC đã đánh một trận oanh liệt, cũng là nơi Thiếu tá Ðoàn Đức Nghi, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 1 cùng một số Mũ xanh của hai tiểu đoàn 1 và 6 đã hy sinh.
- Dòng sông Thạch Hãn nơi trao trả tù binh năm 1973, tôi có tham dự cùng với Ðại Bàng Phu Nhân (189) Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 TQLC.

Sông Thạch Hãn.
- Ðại lộ kinh hoàng, nơi mà cộng quân đã nã pháo và bắn vào những người dân vô tội chạy tản cư. Thêm một tội ác ghê tởm của cộng sản sau vụ giết người tập thể vào Tết Mậu Thân 1968.
- Cầu Mỹ Chánh năm 1972, thời gian đó tôi ở Tiểu đoàn 2 mà Tiểu đoàn trưởng là Ðại Bàng Nguyễn xuân Phúc Robert lửa. và Tiểu đoàn 2 đã phá sập cầu khi đơn vị cuối cùng về bờ Nam. Kể từ lúc đó đây là tuyến phòng thủ cuối cùng.
Trời sập tối, tôi thấy lờ mờ nhà cửa xây dọc hai bên đường. Dòng sông Mỹ Chánh vẫn trôi lờ lửng như năm nào, nhưng có ai biết chính dòng sông này 35 năm vể trước, Ðại Bàng Cao Bằng Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 369 TQLC đã khẳng khái nói với người cố vấn Hoa Kỳ là chúng tôi không lui đi đâu nữa, và ông thề rằng không có một Cộng quân nào vượt qua được dòng sông này. Lời thề đó đã được minh chứng khi hai sư đoản tổng trừ bị Nhảy Dù và TQLC qua sông tiến về Quảng Trị và cuối cùng Sư đoàn TQLC đã cắm ngọn cờ vàng ba sọc đỏ trên cổ thành Ðinh Công Tráng ngày 15 tháng 9 năm 1972.

Cầu Mỹ Chánh.
Trong khi đang hồi tưởng lại những chiến tích xưa, xe đã tới Huế mà tôi không biết. Xe qua cầu Trường Tiền đến khách sạn 3 sao do bộ đội kinh doanh. Khách sạn trông có vẻ tươm tất, sau khi nhận phòng, tôi có nhờ cô tiếp tân mướn dùm chiếc xe du lịch, tôi dự tính ngày mai sẽ thật sự đi thăm những nơi mà trước đây 35 năm, tôi đã chiến đấu bên các đồng đội, để bảo vệ mảnh đất miền Trung khô cằn nghèo khó này.
Tôi thăm thành phố Huế về đêm, dòng sông khang trang, khách sạn và nhà hàng rất nhiều, mục đích cho khách du lịch. Có những con đò dành cho du khách trên dòng sông Hương để thưởng thức ca trù Huế, hò mái nhì.. trong khung cảnh trăng thanh gió mát. Những con đò ngày xưa không còn nữa, chánh quyền làm đẹp bộ mặt của thành phố, nhưng thay vào đó những tệ nạn đầy trên đường phố, từ cầu Gia Hội tới chợ Ðông Ba, cầu Trường Tiền. Ba mươi hai năm không còn chiến tranh, người Cộng Sản vẫn chưa tạo được cuộc sống cơm no, áo ấm cho người dân, những tệ trạng càng tăng làm tôi có cảm tưởng thành phố Huế hiện nay cuộc sống xô bồ, không còn cái vẻ cổ kính thơ mộng, đáng yêu như trước.

Cầu Quảng Trị qua sông Thạch Hãn.
Vì quá mệt mỏi sau khi đi tour vùng DMZ trở về, và thăm một vòng thành phố Huế, tôi trở về khách sạn lúc 11 giờ đêm. Tôi ngủ vùi đến khi có điện thoại.
- A lô! Ông Tiến phải không? Chào Ông. Có xe đang chờ Ông.
Tôi nhìn ngay vào đồng hồ, chiều hôm qua tôi đã hẹn xe đến đón vào lúc 8 giờ sáng. Vậy là trễ gần ba mươi phút. Tôi gọi cô tiếp tân nhờ chuyển lời xin lỗi, nhanh chóng thu dọn để xuống gặp người chủ xe. và cũng là người sẽ đưa tôi đi thăm chiến trường xưa.
Người chủ xe khoảng 45 tuổi cởi mở, khi nghe tôi ngỏ lời xin lổi, anh mĩm cười bảo.
- Không sao anh ạ! Cứ từ từ cũng được.
Hơi lo xa, tôi đề nghị:
- Nhờ anh đưa tôi tới quán bún bò Huế thật ngon.
Anh chở tôi đến quán bún bò huế ở cầu Gia Hội. Trước năm 1975 ở nơi này có quán nấu rất ngon, không có bảng hiệu nên anh em chúng ta chỉ gọi là quán bún bò cầu Gia Hội thôi. Có lẽ là quán này chăng? Bây giờ là khoảng 9 giờ sáng, quán chỉ có mấy cái bàn, khách ngồi gần hết, có mấy nữ du khách (Tây ba lô) đang húp nước sùm sụp. Anh tài xế giải thích:
- Ở Huế, muốn ăn bún bò buổi sáng thì nơi đây, còn về đêm tới một chổ khác rất là ngon.
Bản tính lo xa và cũng vì không am tường sinh hoạt tại các địa phương mà tôi sẽ đến, tôi nhờ anh chủ xe mua dùm mấy chai nước, mấy bịch mè xửng cùng mấy ổ bánh mì, nếu có gì bất trắc cũng không bị cái bao tử càm ràm.
Xe chạy dọc theo sông Hương rồi quẹo phải ra Quảng Trị và dừng xe khi tới khu An Hòa.
Sau hiệp định Ba Lê 1973, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến phát động phong trào thể dục thể thao, Tiểu đoàn 8 Ó Biển của Đại Bàng Phu Nhân, là người hâm mộ môn túc cầu nên phu nhân đã thành lập đội bóng tròn để đi đá banh giao hữu với các tiểu đoàn khác trong sư đoàn. Là người đất thần kinh phu nhân cũng đưa đi tranh tài với các đội bóng của thành phố Huế.

QL1 Cao Xá, Quảng Trị.
Cách đây hơn 32 năm về trước, đội bóng Ó Biển thi tài với đội Thanh Niên An Hòa. Nhìn lại sân banh, những hình ảnh hiện lên trong ký ức tôi từ từ như một cuộn phim quay chậm, tưởng như mới ngày hôm qua, sân bóng tròn vẫn còn đó, nhưng mỗi bên góc sân là một đống rác rất to, hai khung gỗ xiêu vẹo.
- Nguyện ơi! Tương ơi! Mè ơi! Ba Gà ơi! Tài y tá ơi! Đại bàng Phu Nhân ơi! chắc vẫn còn nhớ sân đá banh này.
Xe rời An Hòa và tiếp tục đi về hướng Bắc. Xe qua cầu An Lổ, ngã ba đi Sịa, Phong Điền, cứ mỗi địa danh là lòng tôi bồi hồi, xúc động. Tôi dừng lại ở Mỹ Chánh.
Nhà cửa cất dọc theo hai bên quốc lộ 1, một vài bảng quảng cáo của công ty liên doanh xen lẫn nhiều bảng với khẩu hiệu như “Toàn dân hãy triệt để thi hành luật pháp nhà nước” nhưng người dân bảo rằng “Toàn Đảng phải thi hành luật pháp nhà nước” mới là đúng. Tôi bước xuống xe với lòng trĩu nặng những cảm xúc của năm 1972, vùng trách nhiệm của Tiểu đoàn 2 TQLC. Thời gian này tôi ở Đại đội 5 mà Trung úy Huỳnh Văn Trọn làm đại đội trưởng, lúc đơn vị đến thì chỉ còn những căn nhà bỏ trống, người dân đã di tản vô Huế khi Quảng Trị thất thủ. Đường vào chợ Mỹ Chánh là hai dãy nhà lợp lá, xen lẫn những mái nhà lợp tole mỏng, nơi này một Trung đội của Đại đội 4, Tiểu đoàn 2 TQLC bị một chiếc phản lực cơ đánh bom lầm, Trung tá Nguyễn Xuân Phúc phản ứng nhanh chóng, kịp thời hướng dẫn người phi công oanh kích vào mục tiêu bên kia bờ Bắc sông Mỹ Chánh.
Ba mươi năm trôi qua với những thay đổi, nhưng dòng sông Mỹ Chánh vẫn lặng lẽ chảy êm đềm. Ngay đây có một cái miếu thờ nhỏ, tôi thắp nén nhang cho các bạn đồng đội, các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cùng những người dân vô tội chạy nạn bị cộng quân sát hại trên vùng đất này. Bờ Nam sông Mỹ Chánh lúc đó là vùng đất tự do, nên bất cứ giá nào người dân cũng phải vượt thoát qua dòng sông này.
Một con sông tên gọi hiền hòa, thơ mộng, nhưng năm 1972 sông Mỹ Chánh đã đi vào lịch sử đôi khi có vẻ huyền thoại với một Lữ Đoàn 369 TQLC đã giữ vửng phòng tuyến mà trước mặt là hai sư đoàn Cộng Sản Bắc Việt cùng chiến xa với quyết tâm tiến vào Huế.
Sau khi tưởng niệm các vong linh, tôi dạo một vòng chợ Mỹ Chánh, nhà cửa có xây thêm và sửa sang lại, tôi cố tìm lại tuyến đóng quân của Trung đội, nhưng thật sự tôi không nhận ra, chỉ mường tượng Đại đội 5 trách nhiệm hướng Đông quốc lộ 1, còn toàn bộ tiểu đoàn phòng thủ bên hướng Tây. Hầu như ngày nào địch quân cũng pháo kích và cho bộ binh vượt sông để tràn qua, nhưng chúng đều thất bại trước những tay súng của tiểu đoàn Trâu Điên.

TD2 TQLC "Trâu Điên".
Tôi bước lên cầu Mỹ Chánh được xây lại dõi mắt nhìn bao quát, dòng sông lờ lững trôi như máu lưu thông trong huyết quản, bỗng tim chợt co thắt khi phải giả từ vùng đất mà hơn một phần ba thế kỷ, các đồng đội, chiến hữu QLVNCH và dân chúng hy sinh vì hai chữ Tự Do. Tôi thắp thêm nén hương thơm để tưởng niệm, rồi tiếp tục qua đoạn Đại lộ kinh hoàng đến Hải Lăng
Xe vào Hương lộ 602 với những hàng cây hai bên đường, nhìn cây có thể đoán được thời gian trồng dưới 15 năm. Gần tới biển Mỹ Thủy gặp Hương lộ 555, còn gọi là “Con đường buồn thiu”, con đường mà hầu hết quân nhân TQLC đền có đi qua. Nhìn dọc theo đường là ruộng lúa xanh, mùa gặt vào khoảng tháng 6, và chỉ là những gốc rạ khô khi hai Lữ đoàn TQLC tiến ra Quảng Trị, Tôi được thuyên chuyển về Tiểu đoàn 8 lúc đơn vị vượt tuyến xuất phát Mỹ Chánh, có lần cả đại đội dàn hàng ngang đánh chiếm mục tiêu cùng với chi đội thiết vận xa của Thiết đoàn 18. Bây giờ tôi lại đi trên con đường này, nó đã được tu bổ, nhưng người dân sống vẫn còn rất nghèo.

Quảng Trị.
Từ Quốc lộ 1 đi vào Mỹ Thủy mất khoảng 30 phút, xe tôi tới sát bờ biển. Phải thật sự mà nói, cảnh vật không khác gì 35 năm trước, những ngôi nhà dọc theo bãi cát vẫn như xưa, bên chái nhà người dân đặt vài cái bàn, mấy cái ghế và năm bảy chai nước. Có người cho biết trước năm 1975 hầu hết là thân cộng sản, điều này chứng minh là đúng khi chúng tôi vào cái quán, mấy trẻ con chạy đến vòi tiền, tôi cho các cháu một ít kẹo Chocolat rồi mua hai chai nước ngọt. Thật ra chúng tôi cần giải quyết vấn đề vệ sinh, sẵn dịp tôi hỏi thăm chị chủ quán
- Chào chị, chiếc xe hơi này có thể chạy đến Đê Long Quang được không? Phải bao lâu mới tới đó?
- Các anh muốn đi đê Long Quang phải đi đường khác, đường này rất khó đi.
Tôi quay nhìn anh chủ xe:
- Chút nữa anh chở tôi tới thăm đê Long Quang.
Anh chủ xe trả lời:
- Tôi chưa bao giờ đi đê Long Quang và cũng chưa hề nghe tới địa danh này.
Tôi nghĩ là anh nói đúng, chỉ có những người dân ở đây, hay là những người lính Thủy Quân Lục chiến mới biết, bởi vì 35 năm về trước, đã có bao cuộc chiến diệt chốt địch, các tiểu đội, trung đội TQLC đánh tapi, đánh xả láng không màng tổn thất để dành lại từng tấc đất đã bị địch chiếm giữ.

Chợ Đông Ba.
Cũng tại mặt trận này, anh em thưởng thức loại hỏa tiển của khối cộng sản mà bộ đội Bắc Việt đặt trên giàn và sau đó phóng tới tấp vào vị trí Thủy Quân Lục chiến. Để trả đũa, anh em nghỉ cách kéo thẳng M.72 sắp thành hàng dài trên giao thông hào, mục tiêu được nhắm vào các điểm bố trí chốt, dùng dây điện nối lại với nhau, khi chập hai đâu dây vào cực âm dương của cục pin, cả một loạt hoả tiển bay vào quân địch.
Tôi đang sống với những kỷ niệm xưa ở đê Long Quang, thì anh chủ xe nói:
- Chắc không đi được đâu anh.
Tôi hỏi:
- Sao mà lại không đi được, có xe thì đâu cũng tới được mà.
Người chủ phân trần:
- Tôi biết đi ngõ nào đâu.
Tôi nhớ ngày xưa xe GMC chở lương thực tiếp tế cũng như quân nhân bổ sung theo bờ biển đi lên. Tôi góp lời đề nghị.
- Anh thử chạy ven bờ biển rồi sẽ tới.
Anh chủ xe biện bạch:
- Trường hợp xe bị lún cát thì mệt và khó mà kéo lên được. Người dân ở chung quanh rất nghèo, không có một cái gì họ có thể giúp mình được đâu anh.
- Anh nói có lý.
Tôi đi dọc theo bờ biển tới Gia Đẳng 1 và Gia Đẳng 2. Hầu hết người dân sống bằng nghề đánh cá. Tôi nhớ tại đây có chiếc phi cơ quan sát L.19 bắn trái khói hướng dẫn phản lực oanh kích, đã bị trúng hoả tiển rơi xuống vùng này.
Cuối năm 1972, khi đại đội tôi ra nghỉ quân ở đây, tôi có chụp tấm hình kỷ niệm với anh Đức pháo binh, Nguyên, Mung và tôi cùng đứng trước chiếc máy bay này. Bây giờ là 35 năm sau, khung cảnh vẫn như xưa, người dân cho biết nó đã bị kéo đi rồi. Lòng tôi bồi hồi khó diễn tả, kỷ niệm với các bạn đồng ngũ như mới ngày hôm qua, người còn sống thì rãi rác khắp nơi, người nằm xuống mà nghĩa trang bị chánh quyền cộng sản cấm đoán thân bằng quyến thuộc thăm viếng, và họ toan tính san bằng, bán từng lô đất.
Chúng tôi ở đây hơn hai tiếng đồng hồ, dự định sẽ trở ra Quốc lộ 1 hướng về thành phố Quảng Trị, đặc biệt thăm lại Cổ Thành Đinh công Tráng, một nơi mà cách nay 35 năm, cả thế giới đều biết, Các đơn vị của Liên Đoàn 81 Biệt Cách, Nhảy Dù, TQLC đã đánh những trận tuyệt vời để cuối cùng các Tiểu đoàn TQLC làm chủ hoàn toàn Thành phố, dựng lại ngọn cờ vàng, ba sọc đỏ trên cổng thành ngày 15 tháng 9 năm 1972.
Sau khi hỏi người dân địa phương, được biết có một con đường khác đi tắt tới Thành phố Quảng Trị, và chúng tôi đã theo sự chỉ dẫn đó. Khi xe chạy được 15 phút, tôi mới nhận ra những vùng đất này mà ngày xưa tôi đã đi qua. Đây là cầu Ba Bến, dọc theo sông Vĩnh Định nhà cửa cũng nhiều. Sang kia bờ cầu là bắt đầu vào Thành phố Quảng Trị. Đã 35 năm qua Thành phố hoang tàn trong chiến tranh nay có những xóm nhà, khó nhận ra vì trong tâm tư cứ ngỡ mới hôm nào, nhưng thời gian trôi qua hơn một phần ba của thế kỷ.
Tôi đến ngay Cổ thành lúc 3 giờ chiều. Không hiểu sao đôi mắt tôi cay cay, tôi đứng lặng im trong một phút, cảm giác khó diễn tả bằng lời. Cái hào nước bọc chung quanh cổ thành vẫn còn, và bèo mọc dày đặc. Phía Bắc của cổng thành, họ đã xây cất lại để đón khách du lịch, các em học sinh, sinh viên đi thăm viếng, mục đích để tuyên truyền về một chiến thắng, trong cuộc chiến mà người cộng sản luôn chủ trương là “Tất cả những ai sống trong thị xã đều là kẻ thù, cần phải tiêu diệt hết”.
Xe được phép đi thẳng vào và đậu ở đó. Anh chủ xe vội vã mua vé, hình như 30 ngàn tiền Việt Nam. Khi tôi vào, một anh bộ đội tuổi chừng 40, đội nón tai bèo, đang ở trong cái chòi nhỏ bán vé cùng kiểm soát sự ra vào, anh chạy ra bắt tay tôi, anh này hỏi:
- Anh đi tham quan (thăm viếng) nơi đây phải không?
Tôi trả lời:
- Tôi trước kia có ở đây, nay trở lại để thăm nơi chốn cũ, và cũng để thắp những nén nhang cho bạn đồng đội của tôi và những người phía bên anh trước đây 35 năm.
Anh bộ đội cười giả lả:
- Chúng em ở đây, ngày rằm hay Tết cũng thường thắp nhang cho cả bên lính miền Nam luôn bởi vì cùng một giòng máu, da vàng, cùng một thứ tiếng mà anh, chớ không riêng gì cho bộ đội đâu.
Nghe tới đây, tôi biết anh Bộ đội đang bắt đầu lên lớp (ngôn ngữ cộng sản có nghĩa là giảng dạy) về Cách mạng. Tôi vội cắt ngang:
- Tôi thật cám ơn anh.
Để lái qua vấn đề khác, tôi vội hỏi:
- Anh có nhang để bán không?
- Chúng em có bày bán, nếu anh cần.
Trước khi khởi hành chuyến đi, tôi đã chuẩn bị đầy đủ, mua mấy bó nhang, nhưng tôi cũng mua thêm vài bó nữa để gọi là, rồi đi thẳng vào trong.
Chính quyền cộng sản cho xây nhà bảo tàng, để giới thiệu cho khách đi tham quan, phần đông là các học sinh và sinh viên. Tôi nhất định không vào, vì tránh sự bực tức khi nghe những điều trái tai, không đúng sự thật. Họ chỉ lừa bịp được các em ra đời sau năm 1975 và đã được đảng nhồi nhét chủ nghĩa Mác Lê, tình đồng chí Hoa -Việt như môi hở thì răng lạnh… suy nghĩ một chiều theo đúng đường hướng của đảng và nhà nước.
Họ có lát đường đi ngang dọc trong cổ thành, ngoài ra để cỏ mọc tự nhiên. Muốn nhìn bao quát tôi phải lên cổng thành mà họ đã xây cất lại, từ đây có thể nhìn chung quanh, tâm tư thổn thức, lệ lăn dài theo khoé mắt, vùng đất này, nơi mà các đồng đội và bạn bè của tôi đã ngã xuống để người người nối tiếp tiến lên.
- Các bạn ơi! Tôi về đây với khói hương sưởi ấm anh linh, xin hồn thiêng sông núi chứng giám, độ trì linh hồn các bạn về nơi an lành không còn thương đau.
Sau đó tôi cùng anh chủ xe đốt nhang thầm khấn rồi cắm xung quanh bờ thành, tất cả đều không còn, chỉ duy nhất một góc của Cổ thành mà tôi trèo lên. Cỏ mọc um tùm, che kín mặt đất, nếu không có sự giúp đỡ của anh chủ xe thì thật vất vã vì phải dò dẫm từng bước, nếu không để ý sẽ bị hụt chân và té xuống. Một niềm hãnh diện pha lẫn xúc động khi tôi đứng trên đỉnh cao, tôi cứ ngỡ là mình đang cùng các đồng đội cắm lại ngọn cờ vàng.
Tôi trở lại thành phố, nhà cửa mới xây cất rất nhiều, chỉ còn thành cổ là nhân chứng cho cuộc chiến năm 1972, người cộng sản vẫn che dấu sự thật của cuộc tương tàn theo lệnh quan thầy Nga Sô và Trung Quốc, mục đích là bành trướng chủ thuyết Mác Lê,
Đã 5 giờ chiều, chúng tôi ghé vào tiệm ăn trước khi vô Huế. Trên đường về, lòng tôi thanh thản, vui sướng vì ước nguyện tôi đã thực hiện, đó là về thăm lại những nơi mà tôi cùng các bạn đồng đội chiến đấu để bảo vệ miền đất khô cằn nghèo khó này.
“Thưa các anh, các anh đã gục ngã với tình yêu quê hương, vì hai chữ Tự do cho tha nhân, chúng tôi những người sống sót trong cuộc chiến, không bao giờ quên các anh, mong được về thăm lại những nơi mà chúng ta đã cống hiến tuổi thanh xuân cho tổ quốc. Nhưng trong cuộc sống, mỗi người có hoàn cảnh khác nhau, không phải ai cũng thực hiện được, tâm nguyện lúc nào cũng nhớ và nhắc nhở cho thế hệ kế tiếp về các anh, những người lính không bao giờ chết."

Mũ Xanh Phạm Tiến.
TĐ8 TQLC

Trở Về Chiến Trường Xưa

Hơn ba mươi năm sau Ngày 30 Tháng Tư 1975, một số cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trở lại thành phố Kontum, nơi đơn vị của họ từng chiến đấu nhiều trận oanh liệt đập tan những cuộc tấn công của quân xâm lăng Bắc Cộng; họ trở lại KonTum tìm thăm những phần mộ của những chiến binh đồng đội xưa đã nằm lại trong vùng đất này. Cựu sĩ quan Phạm Tín An Ninh, một trong số cựu quân nhân Sư Đoàn Bộ Binh 23, trở về Kontum chiến trường xưa, ghi lại những cảm nghĩ của ông về chuyến trở về đầy cảm xúc. Mời quí vị đọc:
Trở Về Chiến Trường Xưa. Người viết Phạm Tín An Ninh.
Hơn ba mươi năm sau, tôi cùng với bốn anh em trong đơn vị xưa, trở lại Kontum tìm thăm nơi an nghỉ ngàn đời của những người bạn đồng đội cũ của chúng tôi. Trong những năm 1972 và 1973, đơn vị chúng tôi đã có hơn hai trăm anh em vĩnh viễn nằm lại Kontum để giữ vững miền địa đầu, cửa ngõ quan trọng nhất vào Tây Nguyên, nơi có bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn nằm không xa phía dưới — thành phố Pleiku.
Chúng tôi về chân núi Chu Pao, nhớ lại những trận đánh khó khăn ác liệt với những toán địch quân bị xích chân trong những hầm núi đá, cố bám trụ những cái “chốt”, nhằm cắt đứt QL 14, con đường huyết mạch nối liền Kontum với Pleiku, và tưởng nhớ từng khuôn mặt của những anh em đã không bao giờ còn trở lại, một số đã gởi xác thân lạvùng rừng núi nơi này, tôi xót xa khi nghĩ là mình còn mắc nợ họ. Món nợ máu xương không bao giờ trả được.
soldiers Ngày ấy chiến trường ác liệt, có nhiều người lính phải hy sinh ngay khi vừa mới bổ sung cho đơn vị, mà ban quân số chưa kịp nhận hồ sơ lý lịch. Đa số rất trẻ, độc thân, gia đình ở tận những miền xa, nên mồ mả họ không có ai chăm sóc. Hơn ba mươi năm rồi, qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi, có lẽ hầu hết các nghĩa trang trong thành phố đã bị giải tỏa từ lâu, và nếu có được cải táng ở một nơi nào đó, chắc trên mộ bia không còn ghi đơn vị cũ. Chúng tôi về Kontum để tìm lại chút kỷ niệm và mong được vơi đi chút lòng tưởng nhớ, chứ chuyện tìm lại được mồ mả của anh em — hy vọng rất mong manh.
Cả thành phố Kontum bây giờ đã đổi khác. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được các địa danh ngày trước. Những B12, B15, Thành DakPha, Đồi Sao Mai, Bệnh Viện Dã Chiến. Nơi có những bản doanh, căn cứ từng mang tên những người anh, những người bạn anh hùng của tôi đã nằm xuống để bảo vệ Kontum: Võ Anh Tài, Đặng Trung Đức, Trần Công Lâm… Chúng tôi tìm đến một số nhà người quen lúc truớc. Tất cả không còn. Những người nay chúng tôi gặp đa số mới vào từ miền Bắc. Người Kontum xưa giờ chắc cũng đã tứ tán bốn phương trời. Tội nghiêp cho người dân Kontum bất hạnh. Bao nhiêu năm tháng hứng chịu chiến tranh, có lúc thành phố phải lãnh mỗi ngày hàng ngàn quả đạn pháo, vậy mà họ vẫn ở lại, vẫn cùng với những người lính chúng tôi giữ vững thành phố này trong suốt những thời kỳ ác liệt nhất. Nhưng rồi cuối cùng, giữa tháng 3/1975, Kontum bị bỏ rơi tức tưởi. Những người lính ở Kontum được lệnh tử thủ, ngăn chặn quân địch ở miền địa đầu tam biên cho Pleiku di tản. Tôi từng được nghe người Kontum kể lại chuyện những người lính hào hùng đã tự sát vào giờ thứ 25, khi Kontum bị lọt vào tay giặc. Nghĩ tới đó, lòng tôi thấy nghẹn ngào, nước mắt cứ trào ra.
Đúng như chúng tôi dự đoán, tất cả mọi nghĩa trang trong thành phố, nơi những chiến hữu của chúng tôi được chôn cất, nay đều không còn nữa, người ta đã giải tỏa những nghĩa trang ấy để xây lên một số cơ sở công quyền và những khu giải trí.
Chúng tôi tìm đến Tòa Giám Mục, đây cũng là nơi mà đơn vị chúng tôi đã phải đổ khá nhiều máu xương để tái chiếm trong Mùa Hè Đỏ Lửa. Một vị linh mục đứng tuổi, tiếp chúng tôi niềm nở. Ông cho biết là mồ mả trong các nghĩa trang lúc xưa đã được cải táng và chuyển đến địa điểm mới, nằm trên cây số 9, đường lên Tân Cảnh. Tuy nhiên chỉ có những ngôi mộ có thân nhân nhận lãnh và tự cải táng thì mới có mộ bia, còn những ngôi mộ khác thì không biết ra sao. Ngài còn hướng dẫn chúng tôi đến đó. Cây số 9, gần căn cứ Non Nước, nơi ngày xưa đơn vị tôi đã bao lần cùng với các chiến sĩ thiết giáp của Chi Đoàn 1/8 KB đẩy lui những đợt tấn công biển người của địch, giữ vững cửa ngõ vào thành phố Kontum.
Mất gần hai tiếng đồng hồ, đi khắp nghĩa trang, chúng tôi vẫn không tìm ra bia mộ nào có cái tên quen. Nhiều ngôi mộ không có bia. Chúng tôi đưa vị linh mục trở lại Tòa Giám Mục, cám ơn và chia tay ngài. Đã hơn 12 giờ trưa, chúng tôi tìm một nơi nào đó để ăn cơm. Nhớ tới quán ăn Bạch Đằng và Thiên Nam Phúc ngày xưa, nơi có mấy cô chủ quán dễ thương, mà đám lính tráng chúng tôi thường ghé lại ăn uống sau những tháng ngày dài hành quân trong núi, một anh bạn hỏi thăm đường đến đó. Nhưng quán bây giờ đã đóng cửa và những người xưa cũng đã trôi dạt về những nơi nào. Bọn tôi rủ nhau ra bờ sông Dakbla, dọc theo con đường về làng Tân Hương, nơi lúc xưa có mấy cái quán nhỏ để những ngày tương đối bình yên, bọn tôi ra ngồi uống cà phê, ngắm dòng sông chảy ngược, tạo huyền thoại một thời, mà nhớ tới vợ con hay người tình đang ở đâu đó, để rồi sau lúc chia tay chẳng biết ngày mai ai còn ai mất. Dọc theo bờ sông bây giờ là những hotel, nhà hàng, nhà trọ và biệt thự của các ông quan lớn. Cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra được một cái quán ăn bình dân, nhưng khá sạch sẽ, nằm dưới tàng của một cây trứng cá.
“Buổi trưa nên vắng khách”. Bà chủ quán vui vẻ vừa đón chúng tôi vừa giải thích.
Chúng tôi chọn một cái bàn nhỏ gần bờ sông. Xa xa phía bên kia là làng Phương Hòa thật dễ thương ẩn mình dưới những vườn cây. Nhìn mấy bờ đê bên bìa làng, tôi nhớ tới cái chết của người phi công anh hùng Phạm văn Thặng. Tôi đã chứng kiến phi vụ thật can trường này. Anh là Trưởng phi tuần gồm hai chiến đấu cơ AD-6, đánh bom vào một mục tiêu có nhiều ổ súng phòng không của địch. Anh lao phi cơ xuống thật thấp bắn chính xác, tiêu hủy mục tiêu, tạo một đám cháy và nhiều tiếng nổ phụ, rồi bay lên từ trong đám lửa ấy. Đang trên đường bay về, anh phát hiện có nhiều đạn phòng không bắn lên từ một khu vực khác. Anh quay trở lại, lao phi cơ xuống trút hết những quả bom còn lại, rồi bay vút lên không trung. Đúng lúc ấy, máy bay anh bị trúng đạn. Cánh bên phải phát hỏa. Anh phi tuần phó bay kèm theo, bảo vệ và hối thúc anh nhảy dù ra. Bộ binh chúng tôi cũng sẵn sàng tiếp cứu. Nhưng anh từ chối, nói là nếu anh nhảy dù ra, phi cơ sẽ rớt xuống khu dân cư trong thành phố. Anh cố gắng bay qua bên kia bờ sông, đáp khẩn cấp (crash) xuống khu ruộng trống. Anh điều khiển thật tài tình, nhưng vì phi cơ đã hư hỏng, không còn theo ý muốn, đâm vào một bờ đê và phát nổ. Anh Phạm văn Thặng đã anh dũng hy sinh. Điều cảm động hơn, khi vị quân nhân đại diện của Sư Đoàn đến nhà anh để chia buồn cùng gia đình và đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng, đã kể lại cảnh thanh bạch của gia đình anh, một Trung tá phi công của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
“Mấy ông anh từ xa tới. Chắc tính làm ăn gì chứ cái thành phố này thì có cái gì mà tham quan. Phải không ạ?”
Câu hỏi của chị chủ quán làm tôi trở về hiện tại. Mấy anh em khác im lặng, nhìn tôi như thầm nhắc cho tôi cái nhiệm vụ trả lời.
“Dạ, trước kia chúng tôi từng sống ở đây, nay trở lại tìm người quen, nhưng chúng tôi đi cả buổi sáng nay mà không gặp ai. Chúng tôi không định làm công việc gì cả.”
Chị chủ sốt sắng:
“Mấy anh tìm người quen tên gì, trước kia ở đường nào? Có nhớ địa chỉ không ? Tôi tìm giúp các anh. Tôi là dân ở đây mà.”
Tôi mỉm cười :
“Cám ơn chị. Người quen của chúng tôi nằm trong nghĩa trang thành phố, nhưng đã bị dọn đi nơi khác rồi, biết đâu mà tìm.”
Chị chủ quán nhìn tôi ngạc nhiên :
“Sao lại.. .. ở trong nghĩa trang ?”
“Vì họ đã chết rồi. Chết từ năm 1972, 1973 lận.” Tôi buồn bã trả lời.
“Vậy các anh là Lính Cộng Hòa mình ? Ở đơn vị nào ?
Nghe mấy chữ “Lính Cộng Hòa mình,” tôi cảm thấy gần gũi ngay với người đàn bà xa lạ này. Tôi thân thiện :
“Anh em chúng tôi là lính Sư đoàn 23, Trung đoàn 44.”
Chị hỏi:
“À, vậy có anh nào ở đại đội trinh sát không?”
“Không, bọn tôi ở trung đoàn và tiểu đoàn”. Một người trong chúng tôi trả lời.
Sau một khắc yên lặng, chị lên tiếng:
“Em có mấy người quen ở trinh sát. Lúc trước cũng nằm trong nghĩa trang thành phố, nhưng khi có lệnh giải tỏa, em đã chuyển các anh ấy lên cây số 9 rồi.” Chị chủ quán tỏ ra thân thiện và thay đổi cách xưng hô.
Chúng tôi vừa bất ngờ vùa xúc động. Sau khi chúng tôi ăn xong bữa, chị mang nước trà ra mời chúng tôi, chị kéo ghế ngồi rồi tâm sự.
Chị là người quen của anh Bình, Trung sĩ Bình, ở Đại đội Trinh sát của Đại úy Minh, sau này là Đại úy Mạnh. Trung sĩ Bình tử trận hồi mùa hè 1972.. Ngày đó chị còn đang đi học, nhưng chiến tranh ác liệt quá, trường phải tạm đóng cửa. Chị ở nhà phụ bán cà phê cùng với người chị ruột. Bà chị này quen khá thân với Mạnh. Khi ấy Mạnh còn là Trung úy Đại đội phó. Anh Bình thường cùng Mạnh tới đây, rồi dần dà quen nhau. Từ khi Bình chết, chị thường đến thắp hương và chăm sóc mộ phần Bình và những đồng đội của anh nằm trong nghĩa trang thành phố.
Năm 1978, chính quyền Cộng sản ra lệnh giải tỏa nghĩa trang, chị chạy khắp nơi kêu gọi bà con cùng góp tiền góp sức với chị, nhưng cũng chỉ kịp cải táng hơn 20 ngôi mộ của những anh em Trinh Sát về địa điểm mới. Hầu hết mồ mả của những anh em chiến sĩ còn lại, đã bị san bằng. Chúng tôi cảm động. Không ngờ trong thời buổi nhá nhem tình nghĩa, có lắm kẻ sớm vong ơn, phản suy phù thịnh, vẫn còn có nhiều người Kontum nặng tình với Lính Quốc Gia..
Theo yêu cầu của bọn tôi, chị cùng chúng tôi đi thăm mộ anh Bình và các anh em trinh sát. Hơn hai mươi ngôi mộ được xây bằng đá đơn giản, nằm bên nhau ở khu phía đông nghĩa trang. Điều đặc biệt trên các tấm bia, trước mỗi cái tên đều có kẻ hai chữ “TS.” Chúng tôi thắp hương cho từng ngôi mộ xong, quay lại thì thấy chị đang ngồi sụt sùi khóc trước mộ anh Bình. Khi thấy bọn tôi, chị lau nước mắt, nghẹn ngào nói:
“Thật tội nghiệp, anh ấy hy sinh khi tìm cách chui qua hàng rào để bắn hạ chiếc xe tăng của VC vừa đột nhập vào chiếm bệnh viện.”
Tôi nhớ lại trận chiến ác liệt này. Khi VC mở đợt tấn công thứ nhì vào thành phố Kontum nhằm rửa hận lần thảm bại ở tuyến Tây Bắc: Hơn một trung đoàn Bộ binh và nguyên một tiểu đoàn xe tăng của Sư đoàn 320 của chúng bị chúng tôi xóa sổ. Lần này chúng dùng mấy chiếc M113 đã cướp được của Sư Đoàn 22 BB từ khi Tân Cảnh thất thủ, dẫn đầu môt đơn vị gồm những chiến xa T 54 + T59 có bộ binh yểm trợ, nhằm lừa phi cơ quan sát của ta, xâm nhập vào Bệnh viện Dã chiến, nằm cạnh thành DakPha, cách vòng đai phi trường chừng 800 mét, với ý định lợi dụng những thường dân và binh lính bị thương nằm trong bệnh viện, để uy hiếp lực lượng của ta. Tiểu Đoàn 4/44 do Thiếu Tá Võ Anh Tài chỉ huy đã đánh một trận chiến vô cùng gay go ác liệt với một lực lượng địch đông gấp ba lần, dùng chiến xa T 54 làm lực lương chính. Xe tăng địch nép theo những vách nhà bệnh viện. Muốn diệt chúng phải đến thật gần để có thể dùng những khẩu M 72 có hiệu quả, anh Tài cùng toán Quân báo dẫn đầu đơn vị, tìm cách chui qua hàng rào bệnh viện, và anh đã hy sinh vì bị chính mìn của ta phát nổ. Người anh cả của Tiểu Đoàn, một sĩ quan xuất thân từ khóa 16 Võ Bị Đà Lạt lừng danh, đã nằm xuống mở đường cho đơn vị mình vào cứu nguy bệnh viện, nơi có đồng bào và cả đồng đội của anh bị địch quân dùng làm bàn đạp trong ý đồ bất nhân của chúng. Đại Đội Trinh Sát đang bảo vệ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn được điều động tiếp ứng, đột nhập đánh vào sườn địch. Trinh Sát 44, một đại đội với bao chiến công hiển hách từ thời Đại úy Trần Công Lâm, Phan công Minh và sau này là Đoàn quang Mạnh, đã đánh một trận thật tuyệt vời, bắn cháy nhiều chiến xa địch, đuổi đám tàn quân Cộng sản chạy như vịt ra khỏi bệnh viện và giữ vững một lần nữa vòng đai thành phố. Đại đội Trinh sát này dưới sự chỉ huy tài ba và gan dạ của Trung úy Phan Công Minh, đã từng đánh một trận thần tốc, chỉ bằng lựu đạn và cận chiến, giải cứu cho một Tiểu Đoàn BĐQ /BP bị vây trên đỉnh núi ChuPao. Minh bị thương nhưng vẫn tiếp tục điều quân, vừa phá vòng vây cứu nguy cho đơn vị bạn, vừa diệt những cái chốt địch cuối cùng, khai thông QL 14, để lực lượng chiến xa của Lữ Đoàn II Kỵ Binh lên tăng cường cho mặt trân và hộ tống đoàn xe tiếp tế, lần đầu đến Kontum kể từ khi cuộc tấn công nổ ra. Tướng Trần Văn Hai, nguyên Chỉ huy trưởng BĐQ, lúc ấy là TLP/ QĐII đã cùng Đại tá TMT/QĐ Lê Khắc Lý, đến Quân Y Viện Pleiku, ôm lấy người Đại đội trưởng trẻ tuổi tài ba gan dạ Phan Công Minh ngay khi anh vừa mới được tản thương về, và gắn lon Đại úy cùng Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu cho Minh tại đây. Lúc ấy Phan Công Minh vừa tròn 25 tuổi.
“Đại úy Mạnh bây giờ ở đâu, các anh có gặp anh ấy không ?”
Câu hỏi của chị chủ quán cắt dòng hồi tưởng của tôi. Tôi trả lời chị :
“Anh Mạnh đã chết trong tù cải tạo từ năm 1978, chị ạ.”
Im lặng một lúc, tôi lại nghe tiếng chị khóc. Rồi chị nghẹn ngào:
“Chị Hà em, bạn gái của anh Mạnh lúc xưa cũng bị chết năm 75 khi Việt Cộng vào chiếm Kontum. Mộ chị nằm ở ngay phía trước đây.”
Chị dẫn chúng tôi đến đó. Nhìn bức ảnh trên mộ bia tôi mang máng nhớ lại người con gái tên Hà ở một quán cà phê nhỏ nằm trong vườn cây sau nhà, hơn ba mươi năm về truớc.
Nghĩa địa mới này nằm không xa làng Trung Nghĩa. Tôi rủ chị cùng với chúng tôi ghé lại lại thăm làng và khu nhà thờ. Nơi mà ngày xưa ông Linh mục chánh xứ đã cùng chúng tôi chiến đấu bảo vệ những giáo dân ngoan đạo. Nghe nói ngài đã bị tra tấn đến chết trong trại tù cải tạo.
Ra khỏi nghĩa trang, nhìn về phía bắc, rừng núi ngày xưa, dù không tránh được dấu vết của đạn bom, nhưng vẫn còn xanh tốt, giờ sao lại xơ xác điêu tàn. Tôi hỏi chị bạn gái anh Bình, nghe tiếng chị thở dài :
“Bọn tham nhũng bây giờ còn tàn phá đất nước nhiều hơn cả chiến tranh ngày trước.”
Tôi nhớ lại những vụ án ở đây, có liên quan đến nhiều ông lớn. Mới đây bà Thao Y Bình, Bí Thư Tỉnh Đoàn Kontum đã ăn cướp đến gần 140 tỷ đồng của dân nghèo, và ông Trần văn Thiên, chủ tịch huyện Dak Glei đã thông đồng bán bao nhiêu gỗ quí.
Trên đường vào làng Trung Nghĩa, tôi hồi tưởng những trận đánh trên tuyến Tây Bắc Kontum. Nơi đây đơn vị tôi đã thắng một trận thật lẫy lừng, làm tiêu hao cả Sư đoàn 320 mà địch quân thường hãnh diện là Sư Đoàn Thép, mở đầu cho bao nhiêu chiến thắng sau đó để Kontum, Tây Nguyên không lọt vào tay giặc.
Đúng vào sáng 30 Tết năm 1972, khi chuẩn bị buổi tiệc tất niên cho các đơn vị tại hậu cứ Sông Mao sau một năm đối mặt với chiến trường, Trung Đoàn 44 chúng tôi nhận khẩu lệnh của Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh QĐ II, di chuyển khẩn cấp lên An Khê để thay thế Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ vừa rút quân về nước. Vừa đến An Khê vào chiều Mồng Một Tết, chúng tôi đã cùng với Thiết Đoàn 3 KB tham chiến, giải toả áp lực địch đang bao vây một số căn cứ phòng thủ của các đơn vị thuộc Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn dọc theo đèo An Khê nằm trên QL 19. Tình hình tương đối yên tĩnh, các căn cứ Đại Hàn được giải toả, QL 19 khai thông, chúng tôi vừa đảm trách giữ an ninh cho QL19 từ Pleiku đến Bình Khê, vừa lâp lại các căn cứ pháo binh, phòng thủ. An Khê là một địa danh làm người ta nhớ tới hai đoạn đèo Mang Yang và An Khê cùng những khúc quanh “Tử thần”, mà ngày xưa cả một tiểu đoàn thiện chiến của đội quân viễn chinh Pháp bị lọt vào ổ phục kích, để gần như bị xóa sổ.
Ngày 24/4/72, Tân Cảnh thất thủ khi BTLTiền Phương của SĐ22 bị tràn ngập. Đại tá Lê Đức Đạt, vị Tư lệnh không được sự ủng hộ của tay phù thủy John Paul Vann, cố vấn Mỹ QĐII&QK2, đã từ chối lời mời lên máy bay của người cố vấn SĐ khi phòng tuyến bị chọc thủng bởi nhiều chiến xa T 54 của địch. Ông ở lại chiến đấu và vùi thây nơi chiến địa. Căn cứ Tân Cảnh thất thủ, quận Dakto mất, một BTL/Sư Đoàn bị rơi vào tay giặc mà không hề có bất cứ sự yểm trợ nào của lực lượng đồng minh, cùng cái chết của vị Tư lệnh có thừa liêm sỉ, khí phách hào hùng thời ấy đã là một trang chiến sử nói lên cái bi phẫn của Quân Lực VNCH, báo trước sự bỏ rơi của người bạn đồng minh Mỹ, kẻ đã từng cam kết bảo vệ miền Nam, tiền đồn của Thế Giới Tự Do.
Căn cứ địa đầu thất thủ, kéo theo sự xáo trộn của một Sư Đoàn bao nhiêu năm trấn thủ tam biên, tạo thuận lợi để địch quân tràn xuống uy hiếp Kontum.
Trung Đoàn 44 nhận lệnh di chuyển khẩn cấp đến phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum. Lúc này thành phố Kontum đang bất ổn, VC đã có mặt ở một số nơi trong thành phố và pháo kích thường xuyên vào phi trường, một vài phi cơ bị trúng đạn phải nằm ụ tại chỗ. Chúng tôi được không vận vào ban đêm bằng phi cơ C 130. Khi sắp vào không phận, máy bay tắt hết đèn. Phi cơ không đáp xuống phi trường mà chỉ bay rà qua phi đạo để chúng tôi nhảy xuống từ cửa phía sau.
Tiểu Đoàn 1 và 2/44 đựơc chở thẳng tới phòng tuyến Tây Bắc, thay thế cho một Liên đoàn Biệt Động Quân vừa bị tiêu hao quân số. Hai vị tiểu đoàn trưởng lại là hai người bạn cùng tốt nghiệp Khóa 19 Võ Bị Đà Lạt, cả hai cùng thao lược, can trường: Đại úy Đặng Trung Đức và Đại úy Nguyễn Xuân Phán. Ngay sau khi nhận khu vực trách nhiệm, từ vị Tiểu đoàn trưởng đến binh sĩ cùng nhau lập phòng tuyến chiến đấu, đặc biệt là đào những hầm hố chống chiến xa.
Vào khoảng 5 giờ sáng, ánh trăng hạ tuần còn mờ ảo dưới màn sương, các toán tiền đồn phát hiện có nhiều chiến xa địch đang tiến về hướng Nam. Các binh sĩ được lệnh xuống giao thông hào, và dỡ bỏ tất cả các lều poncho để tránh sự phát hiện của địch. Trên hệ thống vô tuyến, tất cả báo cáo đã sẵn sàng. Địch quân tập trung đánh vào phòng tuyến Tiểu Đoàn 2 của Đại úy Nguyễn Xuân Phán. Chúng không ngờ có một đơn vị thiện chiến mới toanh vừa mới có mặt trên chiến trường này, nên sau một lọat tiền pháo, chúng xua những chiếc T 54 dàn hàng ngang tiến tới, lực lượng bộ binh đi theo sau. Mặc dù đây là lần đầu tiên trực chiến với xe tăng địch nhưng không hề nao núng, mặc cho những vòng xích sắt xe tăng rú gào đe dọa, Đại úy Phán bình tĩnh vừa gọi pháo binh tác xạ ngăn chặn, phân tán và tiêu diệt bộ binh địch, vừa ra lệnh cho binh sĩ chỉ khai hỏa khi những chiếc T 54 tới gần trước mặt, trong tầm bắn chính xác hữu hiệu của những khẩu M 72, loại vũ khí chống xe tăng duy nhất mà đơn vị được cấp, và một số B40, B41 của địch thu dược từ chiến trường An Khê. Đó là một quyết định táo bạo và sáng suốt. Chiếc T 54 đầu tiên bị bắn hạ do chính anh Tiểu Đoàn Phó, Đại úy Nguyễn văn Hướng. Ngay sau đó, hàng loạt xe tăng địch bị bắn cháy. Cộng quân bị đánh bất ngờ, khiếp sợ, quay đầu chạy. Một chiếc T 54 chạy lạc trước hầm Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, bị ta bắt sống cả xe lẫn địch, trong đó có tên đại đội trưởng. Tiểu Đoàn 1/44 của Đại úy Đức trở thành lực lượng ngăn chặn hữu hiệu, đánh bất ngờ bên hông địch, đám tàn quân chỉ còn kịp buông súng đầu hàng. Chiến thắng ấy tất nhiên là công trạng của tất cả mọi người, nhưng sẽ là thiếu sót lớn, nếu không nhắc tới Thiếu tá Ngô văn Xuân, vị Trung đoàn phó tốt nghiệp Khóa 17 VBĐL, người sĩ quan hiền lành mà tài năng đảm lược. Tiếng nói thật bình tĩnh, trấn an, dặn dò, đốc thúc của Bá Hòa (danh hiệu của Thiếu Tá Xuân) thường vang vang trên hệ thống vô tuyến làm nức lòng chiến sĩ.
Ngay sáng hôm ấy, khi khói lửa chưa tan trên chiến trường, Thiếu Tướng Nguyễn văn Toàn vừa nhận chức vụ Tư lệnh QĐII thay thế Tướng Ngô Dzu, bay lên thị sát mặt trận. Ông vẫn đội bê rê đen, đứng trên xe M113 và đi bộ ngay trên phòng tuyến, bắt tay từng anh em binh sĩ, vui mừng với chiến tích đầu tiên của ông và gắn lon thăng cấp cho vị Trung đoàn trưởng. Người ta đã nói nhiều về cá nhân Tường Nguyễn Văn Toàn, nhưng ít ai biết được ông là một dũng tướng trên chiến trường.
Chiến công hiển hách này đã mở đầu cho hằng loạt chiến thắng khác của tất cả những đơn vị tham chiến để bảo vệ Kontum và giữ vững vùng địa đầu Tây Nguyên trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.
Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu lên thăm Kontum, mừng chiến thắng. Khi trực thăng ông đáp xuống căn cứ B 12, bản doanh của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23Bộ Binh , đạn pháo của VC thi nhau rót xuống, nhưng vị Tổng Tư Lệnh xua tay từ chối nhận chiếc áo giáp từ vị Đại tá Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn. Ít nhất ông cũng đã chứng tỏ được cái uy dũng của một người xuất thân từ Lính. Nhân dịp này Tổng Thống gắn lon Tướng cho Đại tá Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư Đoàn. Các Tiểu Đoàn Trưởng đều được vinh thăng một cấp. Riêng vị Trung đoàn phó thầm lặng Ngô văn Xuân đựơc thăng cấp bằng một quyết định riêng. Rồi anh đựơc điều về làm Trưởng Phòng 3 Sư Đoàn và sau này là một trong những vị Trung đoàn trưởng thao lược của uân Lực VNCH.
Text Trung Nghĩa bây giờ chẳng còn môt chút gì dấu tích chiến tranh, nhưng nhìn ở đâu tôi cũng thấy bóng dáng anh em đồng đội cũ, những người bạn trẻ tuổi can trường của chúng tôi ngày trước. Đặng Trung Đức đã hy sinh vào mùa hè 1973 khi vừa được trực thăng vận xuống phía bắc căn cứ Non Nước. Tên anh được đặt cho bản doanh BTL/SĐ. Vợ con anh đã sang Pháp, chị Đức đã mất từ năm 1982, hai đứa con nhỏ phải nhờ ông bà ngoại nuôi nấng. Bà mẹ già góa bụa, mà Đức là con một, cũng đau buồn mà đi theo Đức chưa đầy một năm sau ngày Đức hy sinh. Trần Công Lâm, người bạn cùng khóa thân thiết nhất của tôi — người sĩ quan chưa hề biết mùi chiến bại, đi hành quân mà chưa gặp địch là không chịu quay về — trước khi nắm Tiểu Đoàn 3/44, đã từng là một Đại đội trưởng Trinh Sát lừng danh với bao chiến công hiển hách, vang dội khắp Quân Đoàn, cũng đã nằm xuống cuối năm 1973 trên đỉnh Ngok Wang đèo heo gió hú. Nguyễn xuân Phán sau những năm tháng tù đày, hiện lưu lạc ở một thị trấn nhỏ thuộc tiểu bang Washington bên Mỹ và vẫn hăng say trong các tổ chức xã hội, cộng đồng. Thỉnh thoảng anh xuống San Jose gặp anh em, vẫn cạn ly một trăm phần trăm, dễ thương, vui vẻ như ngày nào. Anh bảo chỉ có những lúc vui với anh em và say mèm mới có thể quên được nỗi đau. Phan Công Minh đang sống âm thầm ở một thành phố biển ngoại ô New York. Hơn 10 năm đi cày 2, 3 “job”, để lo cho các con ăn học, thời gian còn lại chỉ đủ để uống rượu tiêu sầu. Bây giờ tương đối rảnh rang, Minh truyền nghề đánh giặc lại cho thằng con trai lớn vừa tình nguyện vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, đang hành quân trên chiến trường Irak. Riêng anh Ngô văn Xuân, mòn mỏi, bệnh hoạn sau hơn 13 năm tù. Nhưng dường như những vết thương chiến trường, tù ngục còn trên thân xác không làm cho anh đau đớn bằng vết thương trong lòng anh. Nỗi đau của một người đã hiến đời cho binh nghiệp mà giữa đường phải đành vất cung, bẻ kiếm. Bây giờ anh sống lặng lẽ ở một nơi gần thành phố San Jose, làm thơ Hoa Tâm, nghiên cứu về Thiền và Phật học. Còn lại, những đồng đội khác, hoặc đang sống lê lết khốn cùng ở đâu đó bên quê nhà với thương tích trên người, hoặc lưu lạc muôn phương, một số đã hy sinh, xác thân nằm ở một nơi nào đó, giữa núi rừng Kontum này, hay hoang lạnh trong các nghĩa trang, đã dời đi hoặc bị san bằng, nhưng có lẽ hồn thiêng của các anh vẫn còn phảng phất đâu đây. Tôi đốt hết bó nhang còn lại chia cho anh em để cắm trước mồ. Chị bạn gái của anh Bình cũng xin được chia phần. Chúng tôi đứng nghiêm khấn vái bốn phương trời. Cầu nguyện hồn thiêng của những người bạn đồng đội cũ được sớm siêu thoát nơi cõi vĩnh hằng, và xin tất cả tha lỗi cho chúng tôi, những người còn sống nhưng đã không trả được — dù chỉ một phần nhỏ nào — món nợ máu xương cho họ.
Suốt đêm hôm ấy không ngủ được, chúng tôi nằm kể lại bao nhiêu chuyện vui buồn trên chiến trường xưa, nhắc lại từng tên người, từng khuôn mặt bạn bè. Chúng tôi cũng tranh luận thật nhiều về cuộc chiến đã qua và những cái chết của đồng đội mà thấy lòng nặng trĩu những đau buồn với bao điều tức tưởi.
Sáng hôm sau, chị chủ quán mời chúng tôi ăn sáng rồi tiễn chúng tôi ra đầu cầu Dakbla. Chị đứng yên lặng không nói một lời gì. Nhìn những giọt nước mắt chảy dài trên má chị, trong lòng chúng tôi ai nấy cũng đang giữ riêng một nỗi ngậm ngùi. Nhìn dòng sông Dakbla chảy ngược qua cầu, tôi có cảm giác như lòng mình cũng đang chảy ngược về những nơi nào đó trong vùng rừng núi Kontum-Pleiku, những chiến trường xưa, những nơi mãi mãi còn in bóng dáng hào hùng của bao nhiêu chiến sĩ, bạn hữu, anh em – những người lính chiến đồng đội cũ. Tất cả đã từng có một thời sống rất đáng sống.
Phạm Tín An Ninh

Bài viết của ông Phạm Tín An Ninh làm tôi xúc động.
Tôi nhớ Thơ Chinh Phụ:

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.
Chinh phu, tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn!
.. .. ..
Dấu binh lửa nước non như cũ
Kẻ hành nhân qua đó trạnh thương.
Phận trai già ruổi chiến trường,
Chàng Siêu tóc đã điểm sương mới về.

Với niềm cảm khái, tôi làm mấy câu Thơ phóng tác tặng tác giả Phạm Tín An Ninh và những quân nhân bạn đồng đội Sư Đoàn Bộ Binh 23 của ông:

Dấu binh lửa ngày xưa đã mất.
Kẻ lưu vong qua đó trạnh thương.
Phận thua lưu lạc tha hương,
Việt kiều mái tóc điểm sương mới về!

Wednesday, May 17, 2017

Chuyện tình chấn động một thời của vị “Hoàng đế” Trung Phi tại Cù lao Phố Biên Hòa

Cuối năm 1972, không chỉ miền Nam Việt Nam mà hầu như cả thế giới đều biết đến câu chuyện của vị Tổng thống Cộng hòa Trung Phi tên Bokassa tìm được “giọt máu rơi”, kết quả của cuộc tình với người phụ nữ nghèo ở Cù lao Phố Biên Hòa khi ông sang tham chiến tại Việt Nam.
 
Tổng thống Bokassa, chuyện tình, Biên Hòa,
“Hoàng đế” Bokassa và người phụ nữ gánh nước Nguyện Thị Huệ. 
Người con gái Việt Nam lai da đen nghèo khổ, con rơi của ông lúc ấy 19 tuổi, tên Nguyễn Thị Martine theo họ mẹ, làm nghề khuân vác xi-măng từ năm 18 tuổi tại Nhà máy xi-măng Hà Tiên gần Thủ Đức. Đùng một cái, cô trở thành ái nữ của Tổng thống Bokassa, rồi khi vị tổng thống này tham quyền cố vị, xóa bỏ nền Cộng hòa, tự xưng mình là hoàng đế, cô trở thành một vị công chúa trong 3 năm ông tại vị.
Giờ đây, 43 năm đã trôi qua kể từ cái năm 1972 ấy, thế sự đổi dời, những người liên quan hầu như đã hóa thành người thiên cổ, kể cả “Hoàng đế” Bokassa. Riêng cô gái nghèo tức cô “công chúa” Martine Bokassa hiện nay ra sao, cô còn sống hay đã chết? Mới đây, tờ báo Le Figaro của Pháp đã tìm hiểu và đăng rõ chi tiết ngọn ngành, xin mời quý độc giả cùng theo dõi…
Tiểu sử của Bokassa
Bokassa tên đầy đủ là Jean Bedel Bokassa, sinh ngày 22/2/1921 tại làng Bobangui, nước Phi Châu Xích Đạo (Cộng Hòa Trung Phi ngày nay). Ông là con của nông dân nhưng mồ côi cha mẹ từ nhỏ và theo học tại trường do các tu viện Pháp tài trợ.
Khi Thế Chiến thứ II bùng nổ, nước Pháp bị Đức Quốc xã chiếm đóng, Bokassa gia nhập Lực lượng Nước Pháp Tự do và sang Việt Nam tham chiến năm 1950. Thời gian ở Việt Nam, Bokassa chung sống với cô Nguyễn Thị Huệ, sinh được một con gái, đặt tên theo họ mẹ là Nguyễn Thị Martine.
Mười năm sau, năm 1960, nước Phi Châu Xích đạo giành được độc lập từ tay người Pháp. Vị tổng thống đầu tiên của quốc gia này là David Dacko, ngưới có họ hàng xa với Bokassa, đổi tên nước thành Cộng hòa Trung Phi rồi mời Bokassa đang ở Pháp về nắm quyền chỉ huy quân đội.
Tháng 1/1966, với lực lượng quân sĩ trong tay, Bokassa đảo chính, lật đổ David Dacko, tự phong mình là “Thống chế tổng tư lệnh quân đội” và lên làm tổng thống, vẫn giữ tên nước là Cộng hòa Trung Phi.
Tổng thống Bokassa, chuyện tình, Biên Hòa,
Tổng thống Bokassa.
Năm 1976, 10 năm sau ngày đảo chính, Bokassa vốn rất độc tài, thừa thắng xông lên, muốn làm vua để được suốt đời cai trị xứ Trung Phi. Tháng 10 năm ấy, ông đổi tên nước thành Vương quốc Trung Phi và tự xưng Hoàng đế.
Tổng thống Bokassa, chuyện tình, Biên Hòa,
Hoàng Đế Bokassa trong buổi làm lễ lên ngôi. (Ảnh: Newsvo)
Lễ lên ngôi của ông rất lớn, cực kỳ tốn kém, trong khi dân chúng rất đói khổ. Trong 3 năm ông làm vua, dân chúng bất mãn, những cuộc biểu tình của sinh viên nổ ra, ông đàn áp đẫm máu, giết hại hàng trăm sinh viên mặc dầu dân số trong nước lúc ấy chỉ có 4,3 triệu người. Việc đó khiến chính phủ Pháp phải ủng hộ tổng thống cũ David Dacko đảo chính, lật đổ ngai vàng của ông.
Cuộc đảo chính thành công, ngày 20/9/1979, David Dacko lên làm tổng thống và lấy lại tên nước là Cộng hòa Trung Phi. “Hoàng đế” Bokassa phải bỏ chạy sang nước Cộng hòa Bờ Biển Ngà, rồi sau đó sang Pháp. Ông bị chính quyền mới của Tổng thống David Dacko kết án tử hình vắng mặt.
Năm 1986, Bokassa trở lại Cộng hòa Trung Phi với hy vọng được hợp tác với chế độ trong nước, nhưng ông bị đưa ra tòa xét xử về tội phản quốc, giết người, và bị kết án tù chung thân. Tuy nhiên, chỉ 6 năm sau, với sự can thiệp của chính phủ Pháp, ông được thả.
Những năm cuối đời, Bokassa sống ở Bangui, thủ đô của Cộng hòa Trung Phi. Ông chết ngày 3/11/1996 tại Bangui trong hoàn cảnh nghèo túng, không một đồng xu dính túi.
 Chuyện tình anh lính lê dương
Jean Bedel Bokassa đi lính cho Pháp từ năm 18 tuổi, lúc nước Trung Phi còn là thuộc địa của Pháp. Bokassa đến Việt Nam vào năm 1953, lúc ấy ông 32 tuổi, mang danh trung sĩ nhất và đóng tại Chánh Hưng, Sài Gòn (quận 8 bây giờ). Có thời gian Bokassa được tăng cường về Biên Hòa làm nhiệm vụ gác cầu ở Cù Lao Phố (cầu Gành). Hồi đó, làng mạc xa xôi hẻo lánh, người dân rất sợ các toán quân “Tây đen”, phụ nữ không may gặp họ trên đường hành quân là coi như hết đời.
Nhưng những nơi đông đúc thì dân chúng không sợ đám lính đánh thuê này. Những ông lính “Tây đen” có nhiệm vụ canh gác cầu Gành tại Cù lao Phố không dám giở thói côn đồ mà ngược lại, có vẻ hiền từ. Bokassa là người hiền nhất trong số họ. Hồi đó, ở gần cầu Gành có một máy nước công cộng để dân chúng trong vùng đến hứng, gánh về dùng. Trong xóm gần cầu có cô gái nghèo tên là Nguyễn Thị Huệ, chuyên gánh nước thuê cho các gia đình, hết sức cực nhọc dù cô rất xinh xắn.
Sau giờ gác cầu, Bokassa thường la cà đến máy nước công cộng đó để tán tỉnh. Các phụ nữ khác thấy Bokassa tới thì trốn biệt không dám đến gần. Lúc đầu, cô Huệ cũng trốn, nhưng sau đó vì chén cơm manh áo, cô đành liều, cứ đến gánh nước. Anh lính lê dương không làm gì cả, đã vậy còn giúp cô hứng nước và tập tành nói tiếng Việt nghe rất tức cười.
Dần dà, những cử chỉ ngô nghê, vụng về của anh lính da đen làm cho cô Huệ có cảm tình. Rồi cô dạy cho Bokassa nói tiếng Việt. Cô không còn cảm thấy ngại ngùng mỗi khi đối diện với anh lính Phi châu này nữa. Lương của lính Pháp tương đối khá, Bokassa cũng biết cách lấy lòng phụ nữ, lúc thì anh mua tặng cô xấp vải, chiếc khăn, lúc thì chai dầu thơm, có khi anh còn cho cô cả tiền nữa. Hai bên dần dần yêu nhau…
Kết quả của mối tình Phi-Việt đó là cô Huệ mang thai. Ngày ấy con gái chửa hoang là một điều hết sức nhục nhã, nhất là lại có chửa với một anh lính da đen. Cha cô không chịu nổi lời đàm tiếu, đánh cô một trận rồi bỏ nhà ra đi. Mẹ cô nước mắt lưng tròng, phần thì thương con, phần cũng giận con. Bà nói: “Đấy, mày muốn tính sao thì tính, đi đâu thì đi, đừng làm cho tao thêm nhục…”.
Bokassa đưa người tình về Tân Thuận Đông, quận Nhà Bè, nơi đơn vị anh đóng quân gần cầu Tân Thuận. Anh thuê nhà cho người yêu ở. Hai người sống với nhau như vợ chồng.
Tình nghĩa đang mặn nồng thì đơn vị của Bokassa được lệnh về Pháp. Anh trao tất cả số tiền dành dụm được cho vợ và dặn ít nữa nếu sinh con trai thì đặt tên là Martin, nếu sinh con gái thì đặt tên là Martine, sau này nếu có dịp anh sẽ sang Việt Nam tìm hai mẹ con. Cô Huệ khóc hết nước mắt


Tổng thống Bokassa tìm con
Năm 1972, Jean Bedel Bokassa, Tổng thống nước Cộng hòa Trung Phi, nhờ Bộ Ngoại giao Pháp tìm kiếm giùm đứa con rơi, kết quả của mối tình giữa ông thời đi lính Lê dương tham chiến tại Việt Nam với một cô gái ở Sài Gòn, mà bây giờ 19 năm đã trôi qua, vốn không biết tiếng Việt, ông không còn nhớ nhà cha mẹ cô ở đâu.
Những nhân viên thuộc Bộ Ngoại giao VNCH lúc ấy tìm kiếm không thấy mà cũng không có căn cứ gì để tìm kiếm. Cuối cùng, họ tìm được một cô gái cũng lai da đen và cũng 19 tuổi tên Baxi, con của bà Nguyễn Thị Thân ở Gia Định, giao cho Bộ Ngoại giao Pháp đưa sang Trung Phi. Tổng thống Bokassa tổ chức một tiệc mừng rất lớn để đón tiếp cô con gái.
Tin tức về việc Tổng thống Bokassa tìm được đứa con rơi được báo chí Sài Gòn đưa tin trang trọng. Ngay lập tức, có một người khách tới tòa soạn báo Trắng Đen xin gặp ông chủ nhiệm Việt Định Phương. Người khách tự giới thiệu là cậu ruột của cô gái lai da đen tên Nguyễn Thị Martine, đứa con đích thực của vị tổng thống Trung Phi. Ông chủ nhiệm Việt Định Phương liên phân công một dàn phóng viên hùng hậu vào cuộc điều tra.
Tổng thống Bokassa, chuyện tình, Biên Hòa,
Chủ nhiệm nhật báo Trắng Đen Việt Định Phương sau này trở thành cư sĩ ở ẩn. (Ảnh: caphecaumat.blogspot.com )
Cô “công chúa” bốc vác
Sau cuộc chia tay, cô Huệ sinh đứa con gái và đặt tên là Nguyễn Thị Martine theo họ mẹ. Hết tiền, lại có con nhỏ, cô quyết định bế con về sống với mẹ ở Cù lao Phố. Bà mẹ rất mừng vì bà vẫn thương con. Lúc này người cha cũng đã trở về từ lâu. Ông đã già, không còn khó tính như trước nhưng nhà quá nghèo nên không lấy gì giúp đỡ cho con được…
Thời gian này hoàn cảnh hai mẹ con cô Huệ hết sức khổ cực. Cuối cùng cô về chợ Nhỏ, Thủ Đức, sinh sống bằng nghề buôn bán rau cỏ lặt vặt.
Martine lớn lên. Mặc cảm về vấn đề “con lai”, nước da nhờ nhờ, cặp môi dầy, mái tóc xoăn tít… khác với mọi đứa trẻ khác khiến cô bé trở thành ít nói, không dám cởi mở với ai. Cô làm đủ thứ việc để phụ giúp mẹ. Nói chung, Martine là một đứa trẻ ngoan ngoãn.
Một hôm cuối năm 1972, trong khi đang làm công nhân vác xi-măng tại Nhà máy xi-măng Hà Tiên ở gần Thủ Đức, cậu của Martine đến tìm và nói: “Cháu xin phép về ngay có công chuyện. Có mấy ông nhà báo muốn gặp để hỏi gì đó. Mấy ổng định can thiệp cho cháu được gặp cha…”.
Tổng thống Bokassa nhận con
Hồ sơ, hình ảnh của bà Huệ và Martine được Bokassa xác nhận. Đại diện của tổng thống Trung Phi tới Sài Gòn để xúc tiến việc đưa Martine sang đất nước của cha.
Tổng thống Trung Phi tiếp phái đoàn đưa Martine như thượng khách. Ông rất vui mừng đón nhận Martine và bà Huệ. Martine ở lại làm công chúa. Bà Huệ trở về Việt Nam vì đã có chồng khác. Riêng cô Baxi thì được ông nhận làm con nuôi. Sau khi về nước, bà Huệ được Tổng thống Bokassa trợ cấp mỗi tháng 200.000 USD.
Tổng thống Bokassa, chuyện tình, Biên Hòa,
Công chúa Martine. (Ảnh: caphecaumat.blogspot.com)
Năm sau, 1973, Tổng thống Bokassa công bố mở hội kén rể, chọn chồng cho con gái ruột là Martine và con gái nuôi là Baxi. Kết quả, hai thanh niên được chọn là bác sĩ quân y Jean-Bruno Dévéavode làm chồng Martine, đại úy Fidel Obrou làm chồng Baxi. Sau đó, một đám cưới được tổ chức linh đình tại dinh thự quốc gia.
Tổng thống Bokassa, chuyện tình, Biên Hòa,
Đám cưới trọng thể của cả hai công chúa Baxi và Martine được diễn ra cùng ngày. (Ảnh: Las Vegas Báo)
Số phận của hai “công chúa” Trung Phi 
Số phận của Baxi
Từ một đứa con lai thuộc một gia đình nghèo khó, Baxi được Tổng thống Bokassa nhận làm con nuôi rồi cũng trở thành một công chúa, sống trong cảnh giàu sang được một thời gian, sau đó số phận hết sức bi đát.
Năm 1976, chồng của Baxi là đại úy Fidel Obrou, chỉ huy trưởng đội quân bảo vệ hoàng cung nhưng lại âm mưu lật đổ Bokassa và bị Bokassa xử tử.
Ngày chồng chết cũng là ngày Baxi sinh một đứa con trai, nhưng hai tuần sau, đứa bé bị bác sĩ quân y Jean-Bruno Dévéavode chồng của Martine Bokassa giết chết theo lệnh của Bokassa, bằng cách chích một mũi thuốc độc.
Đúng một năm sau ngày chồng bị xử tử, Baxi được Bokassa cho phép trở về Việt Nam, nhưng vì có tiền mang theo nên cô bị hai thuộc hạ của Bokassa giết chết để cướp của và giấu thi thể ở một nơi nào đó trên đường ra phi trường. Cô hưởng vinh hoa phú quý được khoảng 7 năm.
Số phận của Martine Bokassa
Ngày 21/9/1979, Pháp giật dây cho David Dakco tổ chức lật đổ “Hoàng Đế Bokassa Đệ nhất” và buộc ông phải sống lưu vong tại quốc gia Bờ Biển Ngà. Chồng của Martine tức bác sĩ quân y Jean-Bruno Dévéavode bị David Dakco ra lệnh xử tử về tội đã “theo đuôi” Bokassa, giết chết con của “người anh hùng” chống Bokassa là đại úy Fidel Obrou, chồng của Baxi, và thuộc gia đình có nhiều tội ác.
Martine và 3 đứa con trốn thoát qua Pháp, sống trong lâu đài của họ là Hardricourt. Bà Huệ mẹ của Martine ở bên Việt Nam sau này được Martine bảo lãnh sang Pháp sống với con và các cháu.
Martine thấy cái họ Dévéavode của chồng “xui xẻo” quá nên xin đổi tên mới là Martine Kota. Hiện nay cô làm chủ hai nhà hàng rất lớn, một ở Paris và một ở đảo Corse do người con gái lớn đã lấy chồng ở đó trông coi.
Con trai của Martine tên là Jean-Barthélémy Dévéavode, sinh ngày 30/8/1974 tại Bangui, hiện đang sống tại Pháp.
Tổng thống Bokassa, chuyện tình, Biên Hòa,
Tấm hình hiếm hoi của Jean Barthélémy chở bà ngoại Nguyễn Thị Huệ đi phố. (Ảnh: caphecaumat.blogspot.com )
Tổng thống Bokassa, chuyện tình, Biên Hòa,
Cháu ngoại Jean Barthélémy Dévéavode cầm hình bà ngoại Nguyễn Thị Huệ (mẹ Martine) và ông ngoại vua Bokassa trên tay. (Ảnh: nigeldickinson.photoshel ter.com)
TinhHoa sưu tầm